View allAll Photos Tagged suckhoe
Ruột thừa không... thừa như bạn tưởng, chiều cao tăng lên vào buổi sáng và giảm đi vào buổi tối hay vùng da ở gót chân dày tới 4mm…
1. Cơ thể có khả năng sản sinh ra “thuốc kháng sinh”
Ăn tăng cường các loại rau xanh và trái cây trong các bữa ăn thường ngày, có thể giúp cho cơ thể bạn tự sản sinh ra các chất kháng thể.
Nghiên cứu này được thực hiện bởi Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp và Hóa Phẩm Hoa kỳ. Các chuyên gia nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những người tham gia nghiên cứu thường xuyên có thói quen ăn các loại rau xanh và trái cây, điều này đồng nghĩa rằng cơ thể họ nhận được một lượng lớn axit benzoic – một hợp chất tự nhiên có trong rau xanh và trái cây.
Bằng cách sử dụng loại axit này cơ thể sẽ tạo nên loại axit salicylic – một thành phần không thể thiếu trong chất kháng sinh, đặc biệt có tác dụng giảm sưng, viêm và giảm đau hiệu quả.
2. Giấc ngủ ngắn đặc biệt có lợi cho sức khỏe
Một giấc ngủ ngắn chỉ kéo dài khoảng 20 phút có thể cải thiện trí nhớ, tâm trạng, sức khỏe của bạn một cách cực kỳ tích cực.
Không chỉ có vậy, một nghiên cứu kéo dàu trong 6 năm của các nhà nghiên cứu người Hy Lạp còn cho thấy rằng, nam giới có thói quen ngủ trưa ít nhất 3 lần/tuần thì sẽ giảm được 37% nguy cơ mắc chứng bệnh tim mạch.
3. “Xuất binh” có thể là “thủ phạm” khiến quý ông bị hắt hơi
“Xuất binh” là một biểu hiện dễ dàng nhận thấy trạng thái thăng hoa cảm xúc của quý ông trong chuyện “gối chăn”.
Tuy vậy, ở một số nam giới thì khi tới “đỉnh” là lại hệ lụy gây nên những hiện tượng như bị đau một bộ phận nào đó, chứng đau đầu hoặc hắt hơi.
Lý giải cho cảm giác đau đầu, các chuyên gia cho rằng khi đạt cực khoái thì hệ thần kinh ở cơ thể nam giới hoạt động sẽ rất mạnh mẽ và tích cực “thái quá”, vì thế có thể khiến bạn bị đau đầu hay hắt hơi.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Nhung-la...
4. Vùng da chân là vùng da dày nhất
Không giống những vùng da khác trên cơ thể bạn, vùng da ở gan bàn chân có độ dày đến 4mm và trở thành vùng da dày nhất trên cơ thể.
Trong mu bàn chân thì vùng da ở gót chân là vùng da dày nhất và cũng là nới tập trung nhiều tuyến mồ hôi hơn cả trên cơ thể.
5. Ruột thừa không... thừa như bạn tưởng
Không giống như suy nghĩ của nhiều người cũng như tên gọi của nó, các minh chứng đã chỉ ra rằng, ruột thừa được xem như “căn nhà an toàn” là nơi cư trú cho các loại vi khuẩn có lợi cho cơ thể.
Những loại vi khuẩn này rất hữu ích với cơ quan tiêu hóa, giúp bạn phòng tránh được nguy cơ bị tiêu chảy.
6. Chiều cao của bạn sẽ tăng lên vào buổi sáng và giảm đi vào buổi tối
Điều này nghe có vẻ khá vô lý, tuy nhiên để kiểm chứng cho điều này rất dễ thôi, Bạn hãy đo chiều cao của mình vào buổi sáng và tối sau đó là phép so sánh.
Thông thường thì chiều cao chênh lệch này thường sẽ là khoảng 1 – 1,5 cm. Xét về góc độ y khoa thì sở dĩ có hiện tượng này là bởi có sự dư thừa một lượng lớn chất lỏng trên xương đĩa đệm vào buổi sáng sau khi thức dậy và hiện tượng này không có vào buổi tối. Đó chính là lý do vì sao có sự khác biệt về chiều cao này.
7. Mỗi ngày cơ thể “xì hơi” khoảng 14 lần
Đừng lầm tưởng rằng bạn đang mắc chứng đầy bụng do ăn quá nhiều hoặc ăn phải loại thực phẩm nào gây đầy bụng.
Trên thực tế, thống kê đã chỉ ra rằng mỗi ngày cơ thể bạn trung bình sẽ “xì hơi” ra bên ngoài khoảng 14 lần.
8. Cứ 3 ngày dạ dày lại sản sinh ra một lớp “áo” mới
Cứ 3 ngày một lần, dạ dày của bạn sẽ có khả năng tự sản sinh ra một lớp “áo” mới dày hơn để tránh sự “bào mòn” của các loại thực phẩm cũng như axit có trong dạ dày.
9. Người có mái tóc vàng sẽ có nhiều tóc hơn bình thường
Màu tóc quyết định đến số lượng sợi tóc mà bạn “sở hữu”. Trung bình một người bình thường có khoảng 100.000 kén tóc, mỗi kén tóc có thể sản sinh ra 20 sợi tóc trong suốt quãng tuổi thọ của nó.
Nhưng với người có mái tóc vàng thì trung bình họ có 146.000 kén tóc, trong khi đó người có mái tóc đen chỉ có 110.000 ken tóc. Còn những người có mái tóc nâu chỉ có 100.000 kén tóc và người tóc màu hung đỏ chỉ có khoảng 86.000 kén.
10. Khoái cảm làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt
Hai cuộc nghiên cứu với quy mô lớn đã đi đến kết luận rằng, những nam giới ở độ tuổi trung niên nếu như đạt được cảm giác cực khoái khoảng 4 lần/tuần trong độ tuổi 20,30, 40 thì sẽ giảm được nguy cơ mắc chứng bệnh ung thư tuyến tiền liệ 30%.
(Theo Vtc news/OC)
(source: tin180.com/suckhoe/?p=10056 )
Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, dịch cúm H7N9 bắt đầu xuất hiện tại Trung Quốc từ tháng 3/2013 và kéo dài cho đến hiện tại với 5 đợt dịch liên tiếp, đỉnh điểm là đợt dịch vào tháng 2 vừa qua với số lượng các trường hợp mắc mới là 50 – 60 ca trong một tuần.
Gần đây, dịch có xu hướng bùng...
yeumoingay.com/suc-khoe/bung-phat-dich-cum-virus-h7n9-toc...
Có phụ nữ nào không muốn một vòng eo nhỏ và bụng phẳng? Vâng, không phải là một bài tập thể dục, hay viên thuốc giảm cân bí ẩn, mà đó là những loại thực phẩm sẽ giúp bạn “là phẳng” vùng bụng. Bạn quan tâm chứ? 8 loại thực phẩm hữu hiệu sau đây nên được thêm vào danh sách mua sắm của bạn...
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
1. Măng tây
Măng tây là một loại thuốc lợi tiểu tự nhiên, có nghĩa là nó sẽ giúp bạn thải bớt trọng lượng thừa của nước để bụng phẳng hơn nhiều! Đây cũng là một loại thực phẩm kích thích tình dục, do đó, bạn nên bổ sung vào bữa ăn của mình để giúp bạn nhiệt tình hơn với chuyện “yêu”!
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
2. Quả việt quấ
t
Quả việt quất luôn luôn được biết đến là một loại trái cây thượng hạng, nhưng sức mạnh thực sự của chúng cần được khám phá. Gần đây, chúng được chứng minh là có tác dụng loại bỏ mỡ bụng và giúp bạn mảnh mai hơn. Mùa của chúng không kéo dài nhưng ngay cả khi chúng được giữ đông lạnh vẫn có tác dụng tương tự.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
3. Cam, quýt
Cam, quýt đã được chứng minh có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa giúp bạn không bị đầy hơi. Bạn hãy thử thêm vài lát chanh vào nước nóng để có một cốc nước uống làm cơ thể tỉnh táo, thêm chanh và chanh leo vào món salad và ăn quả cam.
Bạn nên tăng cường bổ sung trái cây để giúp cơ thể tiêu hóa tốt. Khỏe mạnh hơn và mảnh mai hơn?! Vâng đúng vậy! Bạn hãy thử nhé.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
4. Trứng
Trứng rất giàu protein, và cũng chứa vitamin B12, loại vi chất tuyệt vời giúp cơ thể phá vỡ và đốt cháy chất béo. Chúng cũng là một lựa chọn tuyệt vời cho bữa ăn sáng, đồng thời, trứng tráng chứa ít chất béo và tốt cho bữa trưa.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
5. Trà
xanh
Trà xanh thực sự có tác dụng hữu hiệu giúp bạn đốt cháy calo.
Vì vậy, việc thêm một vài ly trà vào chế độ ăn hàng ngày của bạn sẽ làm tăng lượng nước hấp thu và tiêu hao thức ăn nhanh hơn...
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
6. Đu đủ
Đu đủ là một loại trái cây ngon, có vị lạ và rất tốt cho bạn.
Không chỉ chứa nhiều các vitamin và khoáng chất, chúng còn có tác dụng phá vỡ các chất xơ, thứ gây đầy hơi và trướng bụng khi nó không tiêu hóa được. Đu đủ cũng rất tốt trong việc giúp cho làn da khỏe mạnh và mịn màng.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
7. Cá
hồi
Cá hồi có chứa Omega-3 thực sự giúp bạn tiêu hóa thức ăn, giữ cho cơ thể gọn gàng và hỗ trợ việc đốt cháy calo thừa. Hương vị của cá hồi cũng thật tuyệt vời, và bạn có thể ăn rất nhiều cá mà không phải lo lắng. Nó cũng là nguyên liệu chế biến được nhiều món ăn khác nhau để bạn đổi thay khẩu vị hàng ngày.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
8. Nước
Nước rõ ràng có tác dụng tốt cho cơ thể vì nó giúp đào thải các độc tố ra khỏi cơ thể, giảm đầy hơi và giúp tiêu hóa tốt. Hầu hết mọi người uống nước quả hay nước ép, tuy nhiên, chúng không tốt bằng nước tinh khiết.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-th...
Vì vậy, dù không thích nước không mùi vị, bạn cũng nên cố gắng uống nước mỗi ngày bên cạnh những loại đồ uống bạn yêu thích.
Nguyệt Mai (Dịch)
( Theo vtv )
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/05/nhung-thuc-pham-loai-bo-mo-... )
Vì sao 44 tuổi đã phải chăm lo sức khỏe đặc biệt?
Điều đầu tiên dễ nhận biết nhất khi nội tạng thay đổi chính là rối loạn chức năng thận. Nam giới bắt đầu cảm nhận được sự mất cân bằng các chức năng bên trong cơ thể. Khả năng tình dục bắt đầu suy giảm do sự thay đổi lượng hóc-môn đột ngột....
yeumoingay.com/suc-khoe/3-thoi-diem-dan-ong-xuong-phong-d...
Giá trị dinh dưỡng cao giúp bồi bổ cơ thể là lý do khiến nhiều thực khách sẵn sàng bỏ ra hàng chục triệu đồng để thưởng thức món ăn độc đáo này.... Xem tiếp >> tinhomnay.vn/tin/kinh-doanh/mua-sam/39021/gan-30-trieu-do...
Ngón tay được xem là trái tim thứ 2 của con người. Việc chăm sóc ngón tay có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe. Kiên trì chăm sóc thì sức khỏe của bạn sẽ tốt lên trông thấy.
Tác dụng chữa bệnh của việc bóp từng ngón tay:
Ngón cái: Day ngón cái có tác dụng cải thiện hệ hô hấp, giảm...
yeumoingay.com/suc-khoe/video-bop-10-dau-ngon-tay-de-lam-...
Màu vỏ trứng không quyết định hàm lượng dinh dưỡng bên trong. Điều này cũng giống như màu da của con cái phụ thuộc vào màu da của cha mẹ, tức là do di truyền.
Mã gene chính là yếu tố quyết định 3 sắc tố hình thành nên màu vỏ trứng, khiến nó có sự thay đổi màu sắc từ ...
yeumoingay.com/suc-khoe/trung-ga-vo%cc%89-do%cc%89-hay-vo...
Rất nhiều người có thói quen ngủ nướng. Tuy nhiên, ngủ nướng lại không mang lại cho bạn cảm giác thoải mái mà nguy hiểm hơn, nó có thể dẫn đến nhiều căn bệnh.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/img220.png
Đột quỵ và tiểu đường
Các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã tiến hành điều tra khoảng hơn 9000 người từ độ tuổi 50 - 79. Sau khi tiến hành điều tra, những bác sĩ này đã nhận thấy các đối tượng ngủ trên 9 tiếng mỗi ngày thường có khả năng mắc bệnh đột quỵ cao hơn 70% so với những người chỉ ngủ từ 7 - 8 tiếng một ngày.
Các chuyên gia cũng cho biết rằng một giấc ngủ quá dài cũng sẽ khiến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tăng lên. Trung bình, cơ thể chúng ta nên ngủ từ 7 - 8 tiếng/ngày là phù hợp. Nếu bạn ngủ ít hơn 6 giờ, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường sẽ tăng khoảng 2 lần, còn nếu bạn nhủ nhiều hơn 8 giờ, nguy cơ mắc bệnh sẽ tăng gấp 3 lần.
Bệnh đường hô hấp, bệnh tim và bệnh liên quan đến đường tiêu hóa
Các chuyên gia cho biết, không khí ô nhiễm nhất trong phòng ngủ là vào buổi sáng. Cho dù bạn có đóng cửa hay không thì một số lượng lớn những bụi bẩn, vi khuẩn, virus, lượng khí carbon dioxide và bụi vẫn tồn tại trong không khí và hây ảnh hưởng đến đường hô hấp. Đối với những người thích ngủ nướng thì họ thường ít vận động và cùng với việc nhiễm khí bẩn trong phòng ngủ sẽ dễ dẫn đến các bệnh cảm lạnh, ho và nhiều triệu chứng khác.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Nhung-ti...
Ngủ nướng không giúp bạn khỏe hơn, thậm chí còn yếu đi.
Khi chúng ta hoạt động, nhịp tim sẽ đập tương đối nhanh và thúc đẩy máu lên não. Còn khi cơ thể nghỉ ngơi, nhịp tim sẽ đập chậm đi, lượng máu bơm lên não cũng vì thế mà giảm xuống. Nếu chúng ta ngủ quá nhiều, hoạt động của tim sẽ suy yếu dẫn đến các bệnh về tim. Đồng thời, ngủ nướng sẽ phá hoạt nhịp độ sinh học của cơ thể, khiến bạn ăn không đúng giờ và vì thế gây ảnh hưởng tới đường tiêu hóa.
Càng ngủ càng lười
Ngủ quá nhiều sẽ không những không giúp bạn thoải mái mà còn khiến cho cơ thể cảm thấy mệt mỏi hơn rất nhiều. Khi dậy, toàn bộ cơ thể sẽ cảm thấy rã rời và lười hoạt động, bạn làm việc cũng sẽ không hề hiệu quả.
Hơn nữa, khi cơ thể không hoạt động quá lâu, cơ bắp cũng sẽ trở nên rệu rạo và kém linh hoạt. Đây chính là một trong những nguyên nhân gây ra căn bệnh yếu cơ.
Rối loạn nội tiết
Ngủ dậy quá muộn sẽ phá vỡ nhịp đồng hồ sinh học của mỗi người. Đồng thời cũng sẽ phá vỡ nhịp sinh học của những cơ quan trong cơ thể gây rối loạn nội tiết và ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần, thậm chí có thể gây trầm cảm.
Đau dạ dày
Ngủ nướng sẽ khiến bạn ăn uống không đúng giờ gây co thắt đường tiêu hóa. Lâu dần sẽ khiến bạn bị viêm dạ dầy mãn tính và có thể mắc chứng khó tiêu.
Để đảm bảo sức khỏe của chính mình, tốt nhất là bạn chỉ nên ngủ khoảng từ 6 đến 8 tiếng mỗi ngày là phù hợp.
Bảo Vy - Tổng hợp từ 39net
(theo afamily)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/20/nhung-tin-do-cua-ngu-nuong-... )
Hiện nay, ung thư dạ dày khá phổ biến, nằm trong số 10 loại ung thư thường gặp nhất. Riêng tại Việt Nam, căn bệnh này đứng hàng thứ hai ở nam giới sau ung thư phổi, thứ ba ở nữ giới sau ung thư vú và cổ tử cung.
Ung thư dạ dày là bệnh khởi đầu ở tế bào dạ dày. Dần dần, chúng phát triển và di...
yeumoingay.com/suc-khoe/6-dau-hieu-canh-bao-ung-thu-da-da...
Nội dung chính trong Bản tin Thực phẩm an toàn số 3:
• Bệnh viện Bạch Mai phát cảnh báo khẩn thiết về ngộ độc methanol
• WHO công bố 12 mầm bệnh kháng kháng sinh, và thực trạng đáng lo ngại tại Việt Nam
• Cúm gia cầm và chuyện “gà Tàu” ở biên giới. Cách chế biến gà an toàn
•...
yeumoingay.com/suc-khoe/ga-tau-troc-loc-10-nguoi-dan-ong-...
Tiềm năng chẩn đoán của nước bọt (nước miếng) là rất lớn, từ các bệnh lý vùng miệng như sâu răng và nha chu cho đến các bệnh toàn thân như bệnh di truyền, bệnh tự miễn, bệnh chuyển hóa hay ung thư.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/04/Doan-ben...
Tại Trung tâm y khoa Medic TP.HCM đã thực hiện xét nghiệm nước bọt để chẩn đoán bệnh mất ngủ, rối loạn nội tiết và tế bào di truyền. Trong ảnh: một bệnh nhân tự lấy mẫu nước bọt tại nhà - Ảnh: N.C.T.
Nước bọt đã được sử dụng trong chẩn đoán cách đây hơn... 2.000 năm. Những lương y ngày xưa của y học cổ truyền Trung Hoa đã kết luận nước bọt và máu là “anh em” trong cơ thể và chúng đến từ cùng một nguồn gốc. Người ta tin rằng những thay đổi ở nước bọt chỉ thị cho tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Chính xác 99,9%
Trả lời bệnh trong 1 giờ
Phòng chẩn đoán chức năng khoa răng hàm mặt Đại học Y dược TP.HCM đã nhập các thiết bị, hóa chất chẩn đoán nguy cơ sâu răng, bệnh lý răng miệng qua nước bọt, kết quả được trả lời nhanh trong vòng một giờ. Phòng cũng đang nhập những xét nghiệm về hormon và ung thư.
Nước bọt như một dịch phẩm chẩn đoán các bệnh lý răng miệng và toàn thân đã được đề cập từ khá lâu, tuy nhiên mãi đến những năm gần đây y học mới thật sự có bước tiến nhảy vọt trong việc nghiên cứu nước bọt. Cách đây bảy năm, Viện Quốc gia nghiên cứu nha khoa và sọ mặt (NIDCR) Hoa Kỳ đặt mũi nhọn đầu tư phát triển việc sử dụng nước bọt như một công cụ chẩn đoán.
Các nhà khoa học đã dần hoàn thiện các bộ công cụ chẩn đoán nước bọt, trước hết là việc tập hợp các protein và tập hợp các sản phẩm phiên mã (transcriptome) có trong nước bọt để hình thành một “mục lục” chẩn đoán nước bọt.
Bản tin ABC News ra ngày 1-2-2010 có bài viết “Xét nghiệm di truyền mới giúp bố mẹ có được những đứa con khỏe mạnh” cho biết một dạng tầm soát mới được gọi là xét nghiệm di truyền phổ quát (Universal genetic test) giúp xác định các ông bố và bà mẹ tương lai có phải mang gen các bệnh di truyền hay không. Không như các xét nghiệm di truyền truyền thống (cần một mẫu máu cho một bệnh chuyên biệt và việc lấy mẫu được thực hiện tại bệnh viện), xét nghiệm mới này chỉ cần một lượng nhỏ nước bọt tự lấy tại nhà, gửi mẫu nước bọt đến phòng xét nghiệm, kết quả sẽ được trả lời qua email.
Thật thú vị, từ nước bọt có thể tìm kiếm hơn 400 đột biến của 109 bệnh di truyền khác nhau với độ chính xác 99,9%, trong đó có các bệnh khá phổ biến như các nang u xơ, bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh tay-sachs (bệnh đần độn và mù gia đình), bệnh thiếu máu vùng biển (beta thalassaemia), bệnh teo cơ tủy mãn tính...
Đoán trước việc sinh non
Người ta cũng đã sử dụng nước bọt để phát hiện các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm virus như HIV, HBV, HCV. Nhiều xét nghiệm dịch miệng đã được phát triển để chẩn đoán HIV. Xét nghiệm HIV bằng nước bọt đã được Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) thông qua và chứng nhận tốt hơn xét nghiệm máu.
Nhiều loại thuốc phát hiện được trong nước bọt. Hiện nay xét nghiệm nước bọt dùng để đánh giá tình trạng lạm dụng thuốc, chẳng hạn như cocaine, ethanol và các chất có thuốc phiện. Nước bọt cũng dùng để giám kiểm thuốc điều trị như digoxin, methadone, một số thuốc chống co giật... và sự tuân thủ đối với việc điều trị của các bệnh nhân tâm thần hay giám kiểm tình trạng hút thuốc lá và phơi nhiễm khói thuốc. Một khía cạnh khác của xét nghiệm nước bọt là đánh giá sử dụng thuốc trái phép, thường phục vụ mục đích pháp y.
Ngoài ra, nước bọt là dịch phẩm rất thích hợp để xác định hàm lượng của hầu hết hormone, trong đó có estrogen (estradiol), progesterone, dehydroepiandrosterone (DHEA) và cortisol. Đặc biệt quan trọng là estradiol vì đó có thể là một chỉ số của tình trạng sinh non và trẻ sinh nhẹ cân.
Chẩn đoán nước bọt có thể tạo ra một thay đổi lớn trong thực hành lâm sàng bằng việc đưa ra các xét nghiệm thuận tiện, chính xác và không gây đau, không làm bệnh nhân sợ, nhất là các bệnh nhi. Một chút nước bọt sẽ giúp việc theo dõi tình trạng sức khỏe, khởi phát, tiến triển bệnh và đánh giá kết quả điều trị có thể thực hiện ngay cả ở vùng xa xôi, hẻo lánh hay vùng nghèo khó.
ThS-BS CAO HỮU TIẾN
(Đại học Y dược TP.HCM)
(theo tuoitre)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/04/15/doan-benh-qua-nuoc-bot/ )
Tất nhiên, để có một cơ thể khỏe mạnh, hoàn hảo nhất là khi mọi người có thể vừa luyện tập, vừa duy trì chế độ ăn đúng cách. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng thực hiện đồng thời được. Khi đó, bạn sẽ ưu tiên phương án nào?
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Che-do-a...
1. Để giảm cân
Cán cân nghiêng về: Chế độ ăn kiêng.
Như nhiều nghiên cứu đã đề cập, cắt giảm calo là con đường ngắn nhất để giảm số đo các vòng. TS Timothy Church thuộc TT Y sinh Pennington, Louisiana (Mỹ) khuyên: “Để cắt giảm 500 calo trong khẩu phần ăn dễ dàng hơn nhiều việc bạn dành một giờ trong phòng tập máy để đốt cháy từng ấy calo mỗi ngày”. Tất nhiên, cả hai chế độ này đều tối cần thiết đối với việc kiểm soát trọng lượng cơ thể.
2. Để tăng cường năng lượng
Cán cân nghiêng về: Luyện tập
Dựa trên khoảng 70 nghiên cứu về thể dục và tâm lý học, việc luyện tập khiến não giải phóng các hoạt chất như dopamine và norepiephrine, có chức năng truyền dẫn thần kinh điều khiển việc tiếp thêm sinh lực cho cơ thể.
3. Để giảm nguy cơ mắc bệnh về tim
Cán cân nghiên về: Chế độ ăn
TS William Harris, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu sức khỏe tim mạch thuộc ĐH Nam Dakota cho biết: nếu bạn phải lưu ý tới một dưỡng chất giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch thì đó là Omega-3, loại axit béo có trong dầu cá giúp giảm đến 64% nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tuy nhiên không thể phủ nhận việc tập luyện giúp cải thiện hệ tim mạch một cách đáng kể.
4. Để phòng chống tiểu đường
Cán cân nghiêng về: Tập luyện
Hiện có gần 10 triệu phụ nữ Mỹ mắc tiểu đường. Đạt được trọng lượng cơ thể tốt cho sức khỏe bằng chế độ ăn và tập luyện là biện pháp phòng ngừa tốt nhất đối với căn bệnh nan y này.
Tuy nhiên, các hoạt động thể chất có vai trò trội hơn một chút: Cơ bắp hoạt động huy động glucose trong máu làm nhiên liệu nhiều hơn, do đó giúp tỉ lệ đường trong máu ổn định hơn.
5. Để phòng chống ung thư
Cán cân không nghiêng về bên nào cả. Việc thực hiện theo một chế độ ăn uống dựa vào thực phẩm là chủ yếu và việc tập luyện thường xuyên đã trở thành “tiêu chuẩn vàng” trong cuộc đấu tranh phòng chống ung thư.
Lưu ý: các nghiên cứu đã cho thấy bạn càng luyện tập chuyên cần, tấm lá chắn chống bệnh ung thư của bạn càng chắc chắn.
6. Để phòng và giảm stress
Cán cân nghiêng về luyện tập
Một buổi vận động túa mồ hôi chừng 20 phút đủ giúp bạn hâm nóng tinh thần để có tâm trạng lạc quan thoải mái trong 12 giờ. Trong nhiều trường hợp, luyện tập còn hiệu quả đối với điều trị trầm cảm bởi nó dẫn đến những thay đổi trong não giúp tăng cường ý muốn chống lại “stress”.
Lan Anh - Theo “Women’s Health Magazine”
(theo dantri)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/13/che-do-an-hay-luyen-tap/ )
Não bộ là cơ quan vô cùng quan trong trong cơ thể mỗi người, tuy nhiên, cách nuôi dưỡng não bộ khỏe mạnh không phải ai cũng biết. Sau đây là những thực phẩm giúp bạn chăm sóc bộ não.
10. Hàu
Nếu bạn là một người thích các loại hải sản thì não bộ của bạn quả là may mắn. Nghiên cứu đã cho thấy, những con hàu giàu kẽm cũng như sắt thực sự rất tuyệt vời cho não, không quan trọng vấn đề tuổi tác. Khi ăn loại hải sản này, bạn sẽ tăng khả năng nắm bắt thông tin vì não bộ hoạt động nhạy bén hơn do kẽm và sắt liên kết làm cho não bộ tăng tính tập trung và ghi nhớ thông tin. Những người thiếu kẽm và sắt thường có bộ nhớ không tốt, kém tập trung, nhớ thông tin chậm và tất nhiên cũng có nhiều bệnh khác hơn những người khác.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
9. Ngũ cốc
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Lúa mỳ, bột yến mạch, lúa mạch và những loại khác, tất cả các loại này đều làm tăng lưu lượng máu đến não bộ, giúp não có khả năng hoạt động tốt hơn. Ngoài ra, các loại này có chứa rất nhiều vitamin B6, đầy đủ các sinh tố B. Sinh tố B là rất tốt cho bất cứ ai đang cố gắng cải thiện trí nhớ. Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng mất trí nhớ đột ngột thường xuất hiện vào thời gian khi bạn 60 hoặc 70 tuổi, nhưng nếu bạn ăn nhiều ngũ cốc thì nguy cơ này cũng sẽ giảm đi.
8. Trà
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Nếu bạn quên uống cà phê hãy thử uống một tách trà! Trà tươi xanh hoặc chè khô đều có lợi cho não bộ vì chúng chứa đầy đủ catechin. Đã bao giờ bạn cảm thấy một ngày mà trong người khô cằn như thiếu nước, thân thể mệt mỏi, và không thích suy nghĩ? Nó có thể là vì bạn thiếu chất catechin trong não. Catechin giúp cho tâm trí của bạn nhẹ nhàng, tươi vui và hoạt bát hơn. Chất này còn giúp não bộ thư giãn, chống mệt mỏi. Trà xanh có tác động mạnh hơn nhiều so với trà đen, nhưng nhìn chung cả hai đều rất tốt cho bạn. Thưởng thức trà vào sáng sớm để giúp não bộ bắt đầu ngày mới tràn đầy sức sống.
7. Trứng
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Khi chúng ta già đi, bộ não của chúng ta cũng bắt đầu thu hẹp lại, gọi là teo não. Tuy nhiên, chúng ta có thể đấu tranh chống lại quá trình tự nhiên này nhờ ăn trứng. Có được điều này là do trứng có đầy đủ các vitamin B12 cũng như lecithin. Vitamin B12 giúp chống co rút não, hiện tượng điển hình của bệnh Alzheimer. Trứng chứa các axit béo thiết yếu. Lòng đỏ chứa hàm lượng cholesterol, cholin cao. Cholin có thể giúp cải thiện trí nhớ của bạn. Nhưng ăn trứng quá nhiều có thể có hại cho sức khỏe của bạn. Các nhà khoa học khuyến cáo mỗi ngày chỉ nên ăn 1 đến 2 quả trứng.
6. Cà ri
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Đây là loại gia vị tuyệt vời cho não của bạn. Một thành phần chính trong bột cà ri là curcumin, là thành phần chứa chất chống oxy hoá giúp chống lão hóa não và duy trì chức năng nhận thức khi tuổi của bạn già đi. Cà ri không chỉ tốt cho não của bạn, nó cũng có thể chống bệnh tiểu đường và bệnh tim.
5. Các quả mọng
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Các loại quả mọng có tác dung cải thiện não bộ rất tốt. Ví dụ, quả quất được biết đến với vai trò cải thiện kỹ năng nhạy bén của bạn. Hầu hết các quả mọng đều có các chất chống oxy hóa có tác dụng rất lớn cho việc thúc đẩy các chức năng của não bộ. Quả mọng đôi khi được gọi là "siêu trái cây" vì hầu hết chúng có chứa fisetin và flavenoid, rất tuyệt vời cho việc cải thiện bộ nhớ và cho phép bạn dễ dàng nhớ lại các sự kiện quá khứ.
4. Các loại hạt
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Các loại hạt như lạc, hạt điều, hạnh nhân, hạt bí, hạt hướng dương và một số loại khác cũng rất tốt cho não của bạn. Hạt có chứa Omega-3 và omega-6, cũng như folate, vitamin E và vitamin B6. Tất cả những chất dinh dưỡng này cho phép bạn có những nghĩ rõ ràng hơn. Chúng cũng giúp bạn suy nghĩ tích cực hơn, bởi vì Omega-3 và omega-6 có tác dụng như là thuốc chống trầm cảm tự nhiên.
3. Rau xanh
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Rau lá xanh như cải bắp, cải xoăn và những người khác rất thích hợp cho trẻ em. Điều này là do các loại rau này có các vitamin B6, B12 và folate, trong đó các hợp chất có rất cần thiết trong não để phá vỡ các homocystein, có thể dẫn đến bệnh mất trí, hay quên và thậm chí cả Alzheimer. Những loại rau này thường chứa hàm lượng sẳt cao. Mà như bạn biết đấy, nếu cơ thể không đủ sắt thì nhận thức sẽ chậm hơn.
2. Cá
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Ăn cá nói chung rất có lợi cho sức khỏe của bạn, đặc biệt là cho bộ não. Cá có chứa Omega-3 là một axít béo rất có lợi cho cơ thể. Ăn cá một tuần/lần có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer do những axit béo giúp chức năng não được tăng cường hơn. Omega-3 còn cung cấp thêm oxy lên não, cũng như cho phép giữ lại một trong những thông tin mới trong khi vẫn lưu giữ các thông tin cũ. Cá tốt nhất cho sức khỏe của não là cá hồi, cá ngừ và cá trích.
1. Chocolate
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Top-10-t...
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, chất chống oxy hoá có ở chocolate gọi là flavonols có khả năng tăng lưu lượng máu lên não. Bạn sẽ tìm thấy nhiều chất oxy hóa này trong chocolate đen, còn những loại chocolate trắng hoặc chocolate có sữa thì hàm lượng flavonols thường ít hơn.
Hoàng Ngân tổng hợp từ Top
(theo afamily)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/03/19/top-10-thuc-pham-tot-cho-na... )
Để chuẩn bị đón em bé chào đời các bà mẹ thường phải học rất nhiều thứ liên quan đến việc chăm sóc trẻ. Trong đó, cách tắm cho bé cũng là một việc bạn phải tìm hiểu trước.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/08/Hoc-cach...
Tắm cho bé sẽ giúp tình mẫu tử của bạn được gắn kết hơn. Ảnh: Internet
Theo các bác sỹ việc tắm rửa giữ vệ sinh cho trẻ rất quan trọng, nó không chỉ giúp giữ cho da bé sạch, ngăn chặn các vi khuẩn xâm nhập gây bệnh về da mà còn ngăn sự bội nhiễm có thể gây nguy hại cho bé. Đối với trẻ sơ sinh (dưới 1 tháng tuổi) bạn có thể cách 1 ngày tắm cho bé một lần. Những ngày không tắm thì lau rửa vệ sinh cho bé. Khi trẻ lớn hơn thì cần tắm rửa đều hàng ngày.
Trước khi tắm cho bé bạn nên chuẩn bị đầy đủ dụng cụ như: sữa tắm, chậu tắm, khăn lau, tã sạch, quần áo… Kiểm tra nước thấy vừa ấm thì mới tắm cho trẻ. Khi tắm cần lau kỹ các vùng da ở cổ, phía sau tai, nách, đùi, bẹn, cổ tay – chân…
Khi chọn sữa tắm bạn cũng nên lưu ý chọn loại không chứa các thành phần gây dị ứng, có tác dụng làm sạch bụi bẩn trên da và thích hợp với da bé. Các bà mẹ nên tham khảo tư vấn của bác sỹ để có sự lựa chọn sản phẩm cho phù hợp. Tuyệt đối không được dùng xà phòng vì xà phòng gây khô da cho bé. Khi gội đầu cho trẻ bạn nên thận trọng tránh để da đầu bị bong, kích ứng và có thể bị chảy máu. Cho trẻ tắm ở trong phòng để tránh gió. Sau khi tắm xong dùng khăn sợi bông mềm thấm khô người cho bé, chú ý thấm sạch nước ở những chỗ có ngấn rồi mặc quần áo thoáng rộng, chất liệu mềm cho trẻ.
Việc tắm rửa cho em bé của bạn không chỉ giúp vệ sinh da, kích thích mạch máu lưu thông ở tứ chi của bé mà còn giúp cho tình mẫu tử của bạn được gắn kết hơn. Trẻ sẽ dần cảm nhận được sự vuốt ve âu yếm từ bàn tay, ánh mắt và nụ cười của người mẹ. Đó cũng là cách bạn kiểm tra sức khỏe cho con của mình, có thể phát hiện ngay được những triệu chứng bất thường trên da và xử lý kịp thời giúp cho bé có sức khỏe tốt nhất.
Trần Hoài
(theo laodong)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/08/25/hoc-cach-tam-cho-tre-khi-ch... )
Không thể làm cho trí óc được nghỉ ngơi, sự mệt mỏi sẽ chồng chất lên quá nhiều và suy nghĩ dẫn đến việc đối phó, chúng ta sẽ khiến bản thân mình suy sụp, không phải là đề cao bản thân. Khi chúng ta có thể cho trí óc nghỉ ngơi, chúng ta có sức mạnh để tập trung, đưa ra quyết định, và có được sự sáng tạo để điều chỉnh khi chúng ta mắc nhiều sai lầm.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/04/Tri-nao-...
Sức khỏe tinh thần: Dành thời gian để chủ động nghỉ ngơi tâm trí khỏi những khích thích liên tục trong cuộc sống thường ngày sẽ khiến chúng ta khỏe mạnh hơn khi đối mặt với các thách thức. (Photos.com)
Việc chuyển từ Toronto đến thành phố New York là một bước ngoặt lớn đối với tôi về nhiều phương diện. Một trong những cú sốc lớn nhất xảy ra khi tôi bắt đầu làm một huấn luyện viên cá nhân ở khu Upper East Side tại Manhattan. Bất kể vị khách nào đến, 95% trong số họ đều gặp khó khăn lớn trong việc thư giãn. Khiến cho các khách hàng của tôi mệt mỏi ít nhất trong 45 phút tỏ ra không có tác dụng đối với khả năng thư giãn của họ trong quá trình trị liệu. Việc thư giãn được là một thành quả lớn đối với họ. Hết khách hàng này đến khách hàng khác đều không thể hít thở bình thường được, và thường xuyên bị căng thẳng khi được hướng dẫn thư giãn.
Một hôm, tôi nói với một khách hàng rằng, hãy thư giãn các cơ mặt. Nó giống như một cái nút thần kỳ vậy. Toàn bộ phần còn lại của cơ thể người ấy đều thư giãn. Đối với người Bắc Mỹ, cơ mặt của chúng ta phản ứng đầu tiên với vô vàn những kích thích mỗi ngày. Bằng cách thư giãn các cơ thường xuyên bị kích thích, nơi được coi là trung tâm phản ứng, tôi phát hiện ra rằng các khách hàng cuối cùng đã có thể thư giãn trong các buổi trị liệu.
Thành phố New York là một nơi độc nhất vô nhị, một thành phố sôi động và các thành phố khác không tạo ra cảm giác “nồi áp suất” giống như vậy. Điều đó không có nghĩa là các vấn đề tương tự không tồn tại. Vấn đề chính nằm ở cơn bốc đồng thúc đẩy chúng ta phản ứng thay vì lựa chọn một cách sáng suốt.
Nhà sáng lập ra công ty IMG và là tác giả cuốn sách Những gì không được dạy ở trường kinh doanh Harvard, Mark McCormack, không muốn trả lời một cuộc gọi ngoài mong đợi bởi nó có khả năng đẩy ông vào một tình thế khó xử. Ông muốn nghe tin nhắn rồi gọi lại hơn để ông có khả năng hành động. Hơn nữa, ông luôn sắp xếp thời gian vào giữa ngày để khóa mình trong phòng làm việc và ngủ trưa hoặc không làm gì cả, ngoài việc nghỉ ngơi.
Điều hành một công ty quản lý thể thao đa quốc gia không khác gì so với việc quản lý bản thân. Giống như một công ty có các phòng, các ban và các hợp đồng cần thỏa thuận, chúng ta cũng giống như vậy. Chúng ta có những điều ham muốn, khao khát, nỗi sợ hãi, tình cảm, công việc, sở thích, gia đình và bạn bè cần phải quản lý. Toàn bộ xã hội trên quy mô rộng lớn đều dồn vào bạn cách này hay cách khác, thu hút sự chú ý, bổn phận và tiền bạc của bạn. Dù bạn đang sống cuộc sống của mình hay đang quản lý một tập đoàn đa quốc gia, chúng ta đều phải tìm ra tâm bão, nơi mà chúng ta có thể bình tĩnh, chín chắn đánh giá và đưa ra quyết định. Hãy hành động thay vì đối phó.
Không gì quan trọng hơn là coi trọng sức khỏe và sự cân đối của bản thân. Một trong số các khách hàng trong buổi trị liệu đầu tiên của chúng tôi đi khập khiễng vì một trận đá bóng, than phiền rằng anh ta khó có thể đi lại vì bắp chân anh ta bị co rút. Anh ấy đã bị co rút toàn bộ. Tôi bỏ ra hàng tháng trời để giúp anh vận động, như anh mong muốn, giúp anh co giãn các cơ. Tôi hy vọng rằng dần dần anh sẽ nghe lời tôi mà chăm sóc bản thân và không tự hủy hoại bản thân mình. Lúc rảnh rỗi, anh thường đi quá giới hạn của mình. Cuối cùng, anh thôi không luyện tập với tôi nữa và bắt đầu bị chứng viêm gân gót chân.
Thay vì kiềm chế các ham muốn của mình, anh ta lại đối phó với chúng và chúng đã hủy hoại anh ta. Chúng ta cần phải tìm cách để chủ động giải tỏa tâm lý khỏi những kích thích liên tục và thử thách của cuộc sống thường nhật. Một vài người gọi đó là hướng nội. Một số người khác thường đi bộ trong công viên, ngắm mặt trời lặn, tập yoga, cầu nguyện, hay tập thiền, v.v… Hãy chắc chắn rằng bạn không mất thời gian một cách thụ động. Hãy thúc đẩy bản thân mỗi lần nhiều hơn một chút. Tự hỏi mình và bạn không cần câu trả lời. Hãy nhìn sâu vào các giá trị của bạn và cân nhắc chúng mà không cần mục đích gì. Quan trọng nhất là hãy thở chậm rãi, hít đầy lồng ngực. Dần dần bạn sẽ thấy được sức mạnh trong tâm trí của bạn.
Không thể làm cho trí óc được nghỉ ngơi, sự mệt mỏi sẽ chồng chất lên quá nhiều và suy nghĩ dẫn đến việc đối phó, chúng ta sẽ khiến bản thân mình suy sụp, không phải là đề cao bản thân. Khi chúng ta có thể cho trí óc nghỉ ngơi, chúng ta có sức mạnh để tập trung, đưa ra quyết định, và có được sự sáng tạo để điều chỉnh khi chúng ta mắc nhiều sai lầm.
Zenon Dolnyckyj là một huấn luyện viên cá nhân, giáo viên hướng dẫn thiền, và đồng sở hữu trung tâm Huấn luyện tinh thần thân thể cá nhân. Bạn có thể liên lạc với ông tại địa chỉ email zenon@mindbodypersonaltraining.com
Zenon Dolnyckyj
(Theo The Epoch Times, vietsoh.com)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/04/12/tri-nao-la-mot-co-bap/ )
Tinh nghệ vàng 1 muỗng cafe hoặc nghệ vàng 1 củ bằng ngón chân cái, trứng gà ta mới đẻ, bỏ lòng trắng lấy lòng đỏ, 1 quả; mật ong rừng là tốt nhất.
Mỗi dịp Tết đến xuân về, bên cạnh những món ăn ngon, độc đáo còn có thêm một món ăn vô cùng độc đáo, ngon miệng lại rất có lợi cho sức khỏe: hành muối.
Ngoài việc kích thích hệ tiêu hóa, giảm cảm giác ngấy cho người ăn thì hành muối còn giúp chúng ta tăng cường hệ miễn dịch, phòng một số bệnh hi...
Xem bài viết gốc tại đây: ytalanda.com/2016/02/01/5-ly-do-vi-sao-nen-an-hanh-muoi-n...
Thông tin gì đang lan truyền?
Những ngày qua, trên một số trang mạng lan truyền 1 clip và thông tin về việc: Hàng loạt nhãn hiệu dầu gội nổi tiếng, phổ biến trong mọi gia đình đều chứa chất cấm nhưng vẫn vẫn bày bán công khai suốt 1 năm nay.
Dẫn ra Công văn 6577/QLD-MP ban hành ngày 13/4/2015 củ...
yeumoingay.com/suc-khoe/hang-loat-dau-goi-noi-tieng-o-vn-...
Nên:
Uống nhiều nước: Khi cơ thể bị mất nước, các vi rút vi khuẩn thường phát triển mạnh mẽ hơn. Khi sốt, bạn nên uống nhiều nước lọc hơn bình thường để bổ sung lượng nước đã mất đi.
Việc bù đủ nước khi sốt sẽ giúp bạn không bị kiệt sức, các độc tố trong cơ thể cũng sẽ được loại bỏ nhanh và dễ d...
Giải độc cơ thể là một trong những phương pháp cải thiện sức khoẻ hữu hiệu nhất. Độc tố tích tụ trong cơ thể sẽ khiến bạn mệt mỏi, uể oải suốt cả ngày.
Để giải độc cơ thể, bạn có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có phương pháp uống trà.
Công thức uống trà này có thể được thực...
yeumoingay.com/suc-khoe/mon-tra-lam-sach-ruot-gia-giai-do...
1. Bài chạm ngón chân để kiểm tra sức khỏe của trái tim
Các nhà khoa học của Trường Đại học North Texas, Mỹ đã phát hiện sự linh hoạt của cơ thể bạn phản ánh đúng sự linh hoạt của các động mạch, từ đó có thể nói lên sức khỏe của trái tim. Vì thế, bài kiểm tra chạm ngón chân đã ra đời.
Rất ngạc...
yeumoingay.com/suc-khoe/kiem-tra-tim-khoe-hay-khong-tai-n...
Cây Cỏ hôi còn gọi là Cỏ cứt lợn, Cỏ cứt heo, Cây bù xích .
Tên Khoa học: Ageratum conyzoides L., thuộc họ Cúc – Asteraceae
Mô tả: Cây cỏ sống hàng năm, cao 30 - 50cm.
Thân có lông mềm, màu lục hoặc tím đỏ.
Lá mọc đối, mép khía răng tròn, hai mặt đều có lông, 3 gân tỏa từ gốc lá.
Hoa tím hay trắng, mọc thành ngù đầu ở ngọn.
Quả bế màu đen, có 5 sống dọc.
Loài cây này có mùi rất hắc khi vò ra nhưng lại có mùi thơm khi nấu.
Bộ phận dùng: Toàn cây, trừ rễ. Thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa hạ.
Dùng tươi hay phơi khô. Thường dùng tươi.
Thành phần hóa học: Tinh dầu 0,7 - 2,0%, màu vàng nhạt, gồm: Ageratochromen, Demethoxy, Ageratochromen, Cadinen, Caryophyllen. Ngoài ra còn có Alcaloid, Saponin.
Công dụng: Tác dụng chống viêm, chống dị ứng.
Chủ trị: Chữa viêm mũi, viêm xoang dị ứng: Nhỏ mũi nước ép cây tươi hay dịch chiết cây khô.
Chữa gàu ở tóc: Cây tươi phối hợp với bồ kết, nấu nước gội đầu cho thơm, sạch gầu, trơn tóc.
Theo Đông y: cây cứt lợn có vị cay, hơi đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng. Thường được dùng chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm dạ dày.
Viêm xoang là bệnh hay tái phát, ngoài việc sử dụng kháng sinh, chống viêm, bơm rửa xoang bằng kháng sinh và phẫu thuật đục xoang của YHHĐ thì việc dùng thuốc nam cũng rất hữu ích trong các lần điều trị viêm tái phát.
Bệnh viện đa khoa Hồng Đức đã sử dụng các chế phẩm của Cỏ hôi để điều trị các chứng viêm xoang mũi mạn tính và dị ứng, có kết quả tốt, không gây tác dụng phụ gì đối với cơ thể người bệnh.
www.dongyhongduc.com/content/detail/6/202
Cây cỏ hôi chữa viêm xoang
Cây cỏ hôi trong dân gian thường gọi cây cứt lợn, ngũ vị, tên khoa học: Ageratum Conyzoides-L. Cây cao chừng 25-30 cm, lá mọc đối xứng hình quả trứng hoặc hình ba cạnh, phía trên của lá (lưng lá) màu xanh đậm, phía dưới bụng màu nhạt hơn, lá có lông, sờ nhám, vò nát có mùi thơm dễ chịu (dầu sánh màu vàng). Trong tinh dầu hoa và lá đều có cadinen, caryophyllen, geratockomen, demetoxygeratocromen và một số thành phần khác.
Và mới đây các nhà khoa học còn cho thấy cây này có 3 tác dụng chính chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng.
Ba cơ chế tác dụng này hoàn toàn phù hợp với cơ chế gây viêm xoang từ viêm họng, viêm mũi, viêm mũi dị ứng, viêm họng hạt... điều trị không khỏi hẳn, tình trạng viêm lan tới các xoang gây ra viêm xoang. Khi các hố xoang đã viêm tất nhiên sẽ phù nề gây cản trở đường hô hấp trên, như: ngạt mũi, ứ đọng, tiết dịch... và gây phản ứng cục bộ, sốt, đau đầu...
Một số bài thuốc dùng trong nhân dân
Chữa viêm xoang mũi do dị ứng, viêm mũi dị ứng
Bài 1: Cỏ hôi 100g tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, dùng bông thấm nước nhét vào lỗ mũi.
Bài 2: Cỏ hôi 100g, lá long não 50g, lá chanh 10g.
Cách dùng: Rửa sạch, cho 200ml nước, sắc còn 50ml lít nước, đổ nước ra bát hoặc chén xông lên mũi, ngày xông 3 lần.
Chữa rong huyết ở phụ nữ:
www.yhth.vn/suckhoe/489/489.htm
Hy thiêm 12g, hương phụ chế 10g, ích mẫu thảo 12g, ngải cứu 16g, cỏ hôi 20g. Tất cả rửa sạch, phơi khô. Cho 600ml nước sắc còn 150ml, sắc 2 lần, chia 2 lần uống trong ngày. Thường dùng 3-4 tháng.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ageratum conyzoides L., Asteraceae, is an annual herbaceous plant with a long history of traditional medicinal uses in several countries of the world and also has bioactivity with insecticidal and nematocidal acitivity. This tropical species appears to be a valuable agricultural resource.
BOTANY
Ageratum is derived from the Greek "a geras," meaning non-aging, referring to the longevity of the flowers or the whole plant. The specific epithet "conyzoides" is derived from "kónyz," the Greek name of Inula helenium, which it resembles (Kissmann and Groth 1993).
The synonyms of A. conyzoides include A. album Stend; A. caeruleum Hort. ex. Poir.; A. coeruleum Desf.; A. cordifolium Roxb.; A. hirsutum Lam.; A. humile Salisb.; A. latifolium Car.; A. maritimum H.B.K.; A. mexicanum Sims.; A. obtusifolium Lam.; A. odoratum Vilm. and Cacalia mentrasto Vell. (Jaccoud 1961). In Brazil, A. conyzoides has the following vernacular names: catinga de bode, catinga de barrão, erva de são joão, maria preta, mentrasto, erva de são josé, picão roxo, erva de santa-lúcia, camará-opela, agerato, camará apeba, camará iapó, camará japê, erva de santa maria, macela de são joão, macela francesa, matruço (Jaccoud 1961; Oliveira et al. 1993).
Ageratum ranges from Southeastern North America to Central America, but the center of origin is in Central America and the Caribbean. Most taxa are found in Mexico, Central America, the Caribbean, and Florida. Ageratum conyzoides now is found in several countries in tropical and sub-tropical regions, including Brazil (Baker 1965; Lorenzi 1982; Correa 1984; Cruz 1985).
Johnson (1971), classifies two subspecies, latifolium and conyzoides. Subspecies latifolium is found in all the Americas and subsp. conyzoides has a pantropical distribution. The basic chromosome number is 2n = 20 but natural tetraploids are found. A. conyzoides subsp. latifolium is diploid and A. conyzoides subsp. conyzoides is tetraploid.
Ageratum conyzoides is an erect, herbaceous annual, 30 to 80 cm tall; stems are covered with fine white hairs, leaves are opposite, pubescent with long petioles and include glandular trichomes. The inflorescence contain 30 to 50 pink flowers arranged as a corymb and are self-incompatible (Jhansi and Ramanujam 1987; Kaul and Neelangini 1989; Ramanujam and Kalpana 1992; Kleinschimidt 1993). The fruit is an achene with an aristate pappus and is easily dispersed by wind. In some countries the species is considered a weed, and control is often difficult (Lorenzi 1982; Scheffer 1990; Kalia and Singh 1993; Lam et al. 1993, Paradkar et al. 1993; Waterhouse 1993; Kshatriya et al. 1994). Seeds are positively photoblastic, and viability is often lost within 12 months (Marlks and Nwachuku 1986; Ladeira et al. 1987). The optimum germination temperature ranges from 20 to 25°C (Sauerborn and Koch 1988). The species has great morphological variation, and appears highly adaptable to different ecological conditions.
PHYTOCHEMICAL CHARACTERISTICS
There is high variability in the secondary metabolities of A. conzyoide which include flavonoids, alkaloids, cumarins, essential oils, and tannins. Many of these are biologically active. Essential oil yield varies from 0.02% to 0.16% (Jaccoud 1961). Vyas and Mulchandani (1984) identified conyzorigum, a cromene. Borthakur and Baruah (1986) identified precocene I and precocene II, in a plant collected in India. These compounds have been shown to affect insect development, as antijuvenile hormones, resulting in sterile adults (Borthakur and Baruah 1987). Ekundayo et al. (1988) identified 51 terpenoid compounds, including precocene I and precocene II. Gonzales et al. (1991) found 11 cromenes in essential oils, including a new cromene, 6-angeloyloky-7-methoxy-2,2-dimethylcromen. Vera (1993), in Reunion, found ageratocromene, other cromenes, and beta cariophylene in its essential oil. Mensah et al. (1993) and Menut et al. (1993) reported similar yields of precocene I in the essential oil of plants collected in Ghana.
Vyas and Mulchandani (1986), in India, identified flavones, including some considered new such as ageconyfavones A, B, and C. Horrie et al. (1993) reported hexametoxyflavone. Ladeira et al. (1987) in Brazil, reported three cumarinic compounds, including 1-2 benzopirone. The species contains alkaloids, mainly the pirrolizidinic group, which suggest that it may be a good candidate for pharmacological studies. Trigo et al. (1988) found several alkaloids, including 1,2- desifropirrolizidinic and licopsamine which can have hepatotoxic activity. Alkaloids also were found by Weindenfeld and Roder (1991) in a hexane extract of A. conyzoides in Africa.
FOLK MEDICINAL USES AND PHARMACOLOGICAL STUDIES
A. conyzoides is widely utilized in traditional medicine by various cultures worldwide, although applications vary by region. In Central Africa it is used to treat pneumonia, but the most common use is to cure wounds and burns (Durodola 1977). Traditional communities in India use this species as a bacteriocide, antidysenteric, and antilithic (Borthakur and Baruah 1987), and in Asia, South America, and Africa, aqueous extract of this plant is used as a bacteriocide (Almagboul 1985; Ekundayo et al. 1988). In Cameroon and Congo, traditional use is to treat fever, rheumatism, headache, and colic (Menut et al. 1993; Bioka et al. 1993). In Reunion, the whole plant is used as an antidysenteric (Vera 1993). The use of this species in traditional medicine is extensive in Brazil. Aqueous extracts of leaves or whole plants have been used to treat colic, colds and fevers, diarrhea, rheumatism, spasms, or as a tonic (Penna 1921; Jaccoud 1961; Correa 1984; Cruz 1985; Marques et al. 1988; Negrelle et al. 1988; Oliveira et al. 1993). A. conyzoides has quick and effective action in burn wounds and is recommended by Brazilian Drugs Central as an antirheumatic (Brasil 1989).
Several pharmacological investigations have been conducted to determine efficacy. Duradola (1977) verified inhibitory activities of ether and chloroform extracts against in vitro development of Staphylococus aureus. Almagboul et al. (1985), using methanolic extract of the whole plant, verified inhibitory action in the development of Staphylococus aureus, Bacillus subtilis, Eschericichia coli, and Pseudomonas aeruginosa. Bioka et al. (1993) reported effective analgesic action in rats using aqueous extract of A. conyzoides leaves (100 to 400 mg/kg). Assays realized in Kenia, with aqueous extract of the whole plant, demonstrated muscle relaxing activities, confirming its popular use as an antispasmotic (Achola et al. 1994).
In Brazil, assays conducted by State University of Campinas and Paraiba Federal University) showed promising results. Marques Neto et al. (1988) in clinic trials with patients with arthrosis, administered aqueous extract of the whole plant, and reported analgesic effect in 66% of patients and improvement in articulation mobility in 24%, without side effect. Mattos (1988), using aqueous extract of the whole plant, verified effective clinical control of arthrosis, reporting a decrease in pain and inflammation or improvement in articulation mobility, after a week of treatment.
BIOACTIVITY
Ageratum conyzoides has bioactive activity that may have agricultural use, as shown by several research investigations in different countries. Pereira in 1929, cited by Jaccoud (1961), reported use of the leaves as an insect (moth) repellent. The insecticide activity may be the most important biological activity of this species. The terpenic compounds, mainly precocenes, with their antijuvenile hormonal activity are probably responsible for the insecticide effects.
Assays conducted in Colombia by Gonzalez et al. (1991) showed activity of this species against Musca domestica larvae, using whole plant hexane extract. Vyas and Mulchandani (1980) reported the action of cromenes (precocenes I and II), isolated from Ageratum plants, which accelerate larval metamorphosis, resulted in juvenile forms or weak and small adults.
Ekundayo et al. (1987) also demonstrated the juvenilizing hormonal action of precocene I and II in insects, the most common effect being precocious metamorphosis, producing sterile or dying adults. Raja et al (1987), using A. conyzoides methanolic extract from fresh leaves (250 and 500 ppm) in the fourth instar of Chilo partellus (Lepidoptera, Pyralidae), a sorghum pest, observed the presence of a dark stain in the insects' cuticle and immature pupae formation, both symptoms of deficiency of juvenile hormone.
A. conyzoides also induces morphogenetic abnormalities in the formation of mosquitoes larvae (Culex quinquefasciatus, Aedes aegypt, and Anopheles stephensi). This has been verified using petroleum ether extracts (5 and 10 mg/L) of the whole plants. The larvae showed intermediary stages between larvae–pupae, discolored and longer pupae, as well as incompletely developed adults (Sujatha et al. 1988). Extracts of the flowers of this species showed activity against mosquitoes (Anopheles stephensi), in the last instar, showing DL 50 with 138 ppm (Kamal and Mehra 1991).
Cetonic extracts of the species produced significant effects against the mosquito, Culex quinquefasciatus, in India, when applied to fourth instar larvae and adult females. In larvae, the extracts produced altered individuals, intermediate between larvae and pupae, unmelaninized and with inhibition of development, as well as adults with deformed wings muscles. In female adults, there was loss of fecundity, lower eggs production, and production of defective eggs (Saxena et al. 1992). Similar results were observed in larvae of Anopheles stephensi and Culex quinquefasciatus in others essays, confirming the antijuvenile potential of A. conyzoides (Saxena and Saxena 1992; Saxena et al. 1994).
The species also has potential use in controlling other pests. Shabana et al. (1990), using aqueous extract of the whole plant, verified reduction of larvae emergence of Meloidogyne incognita. Pu et al. (1990) and Liang et al. (1994), verified that plants of A. conyzoides in Citrus orchards sheltered predators of the spider Panonychus citri, suggesting that its development in orchards is beneficial. Other Citrus spiders populations, Phyllocoptruta oleivora and Brevipalpus phoenicis were decreased with maintenance of A. conyzoides in the orchards and a reduction of leprosy virus was noted (Gravena et al. 1993)
The presence of A. conyzoides can also be used as an seed inhibitor, decreasing development of several herbaceous plants. Jha and Dhakal (1990) in Nepal, reported that an aqueous extract of the aerial part or roots of this species (15 g of aerial part or 3 g of roots in 100 ml of water, during 24 h) inhibited germination of wheat and rice seeds while Prasad and Srivastava (1991) in India, reported a lower germination index in peanut seeds with aqueous extract.
CULTURAL STUDIES
Magalhaes et al. (1989) in Brazil evaluated fertilizer studies and plant density on biomass production of A. conzyzoides. The higher the N level, the higher the biomass production (dry weight basis). Optimum spacing was 70 cm between rows and 50 cm between plants. Biomass yields was 1.3 t (dry weight)/ha.
Correa Jr. et al. (1991) obtained biomass yields of 3.3 to 5.3 t (fresh wt)/ha. Essential oil content was 0.02% (fresh wt) and 0.16 % (dry wt) in the preflowering state. Preliminary data of Ming (1998) indicated that essential oils, higher in leaves than in flowers, peaked during early-flowering.
FUTURE POTENTIAL
There are some small pharmaceutical companies in Brazil using A. conyzoides as a raw material for phytochemicals. The demand is increasing year by year and this situation warrants further scientific research to develop both agricultural and medical uses. Research on medicinal plants should be focused primarily on species whose pharmaceutical activities have already been demonstrated. Positive preliminary clinical assays of A. conyzoides clearly demonstrate that this species may be an important economic resource in several tropical countries. The use of this species as a natural biocide or agent for pest management particularly requires further investigation.
Cho dù đó là một bữa ăn nhanh gọn, đơn giản, phù hợp với lịch trình bận rộn của bạn hay một khay cơm đầy đủ tại bếp ăn công ty hay hộp đồ ăn bạn chuẩn bị từ nhà… thì bạn cũng cần hiểu rằng, bữa trưa không phải là bữa ăn khiến bạn phát phì.
Thực tế cho thấy, bữa trưa mới chính là bữa...
yeumoingay.com/suc-khoe/chuyen-gia-tiet-lo-3-sai-lam-pho-...
Rượu khi đã vào cơ thể với nồng độ cồn nhất định trong máu gây say thì mọi cơ quan chức phận nào cũng bị nhiễm độc.
Chữa say rượu chỉ giúp thuyên giảm các triệu chứng cấp tính, chữa phải kéo dài 2-3 ngày sau mới tạm yên tâm. Nếu say liên tục thì bệnh cảnh còn trầm trọng hơn và chạy chữa khó...
yeumoingay.com/suc-khoe/kinh-nghiem-dan-gian-phong-chua-s...
Vào những ngày hè, trẻ em nghỉ học ở nhà, nhiều gia đình bận rộn không trông nom bé thận trọng, do vậy tai nạn thường xảy ra với trẻ.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/img50.png
Từ tai nạn trong nhà…
Vừa qua, khoa Cấp cứu hồi sức (Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM) tiếp nhận bé N.T.M.N (gần 3 tuổi, nhà ở tỉnh Long An), từ bệnh viện địa phương chuyển đến với chẩn đoán ngộ độc thuốc diệt cỏ. Bé vào viện trong tình trạng lơ mơ, nôn ói, bứt rứt… Người nhà của bé cho biết, trong lúc chạy đùa vui chơi ở nhà, bé N. khát nước, tưởng chai đựng thuốc diệt cỏ là chai nước uống, nên đã lấy uống. Mới uống được một ngụm thì bé bị ho sặc sụa, ói mửa. Rất may, người nhà đã phát hiện được nên đưa bé vào bệnh viện địa phương sơ cấp cứu trước khi chuyển lên Bệnh viện Nhi đồng 1. Tại đây, bác sĩ tiếp tục rửa dạ dày và cho cháu uống than hoạt tính để loại bỏ độc chất còn lại trong đường tiêu hóa, cộng với điều trị thuốc… mới giúp cháu qua cơn nguy kịch. Các bác sĩ cho rằng, trường hợp này còn là rất may, vì nếu bé uống nhiều hơn một chút, sẽ gây tụt huyết, trụy tim mạch, hoặc co giật hôn mê, dẫn đến tử vong nếu không được điều trị hỗ trợ kịp thời.
Cũng mới đây (ngày 15.6), Bệnh viện Nhi đồng 2 (TP.HCM) tiếp nhận một bệnh nhi vào viện do chấn thương mắt. Đó là trường hợp bé N.T.K.T (3 tuổi, nhà ở Q.4, TP.HCM) vào viện trong tình trạng bị rách mi mắt bên dưới, rách giác mạc. Lý do rất đơn giản: bé ngồi chơi với chiếc chong chóng một mình trước cái quạt máy đang quay. Bé để chong chóng trước quạt để cho nó quay, đồng thời chong chóng cũng ngang tầm mặt bé. Chiếc chong chóng bị gió lùa úp vào mặt bé, và cọng kẽm của chong chóng bật ra đâm vào mắt gây tổn thương. Bác sĩ đã gây tê để gắp dị vật trong mắt bé ra. May mà cọng kẽm không đâm trúng những bộ phận quan trọng của mắt.
...Đến tai nạn bên ngoài
Cuối tháng 5, đầu tháng 6, Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM cũng tiếp nhận một trường hợp tai nạn khác. Bé gái tên N.T.M (4 tuổi, nhà ở H.Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu), được bệnh viện địa phương chuyển đến vì ong vò vẽ đốt gây biến chứng suy gan, suy thận... Trước đó, bé N.T.M đang chơi đùa, bất ngờ bị một đàn ong vò vẽ từ lùm cây ven đường bay ra tấn công, đốt bé đến 41 nốt. Bé được phát hiện đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời, vì theo các bác sĩ, với một lượng lớn mũi tiêm bởi ong vò vẽ như thế rất dễ dẫn đến sốc phản vệ, tử vong, nếu không được cấp cứu sớm. Khi vào Bệnh viện Nhi đồng 1, bệnh nhi hôn mê, khó thở, vàng da, vàng mắt, vô niệu (không có nước tiểu), đầu, cổ, tay, lưng... bị sưng vù bởi những vết ong đốt. Bác sĩ khẩn cấp cho bé thở oxy, tiến hành lọc máu liên tục... Kết quả xét nghiệm bệnh nhi bị suy gan, suy thận, rối loạn đông máu, toan chuyển hóa, tăng kali máu. Bé còn bị suy thận cấp phải chạy thận nhân tạo, sau hai tuần chữa trị tình trạng sức khỏe mới được cải thiện.
Cẩn trọng
Các bác sĩ nhi khoa khuyến cáo: Vào những ngày hè, trẻ nghỉ học ở nhà, nhiều gia đình không có người trông nom bé sát sao, nên nhiều tai nạn sinh hoạt xảy ra với trẻ trong dịp hè. Những tai nạn trong nhà thường gặp là: té cầu thang, tổn thương do những vật nhọn (do đùa nghịch, chơi dao), té võng, té vào xô nước (nhiều trường hợp trẻ nghịch té cắm đầu vào xô nước dẫn đến tử vong), bị điện giật, uống nhầm hóa chất (do người lớn đựng hóa chất - dầu hôi, thuốc diệt cỏ... trong những loại chai đựng nước)... Tai nạn bên ngoài thường gặp ở những trẻ miền quê như: bị ong đốt, tai nạn giao thông, tai nạn do tắm sông, suối, phỏng lửa...
Theo bác sĩ Nguyễn Bảo Tường - Trưởng khoa Phỏng - Chỉnh hình (Bệnh viện Nhi đồng 1): Ngoài dịp gần cận Tết, thì dịp nghỉ hè số trẻ bị phỏng (phỏng nước sôi, phỏng lửa) rất nhiều, do vậy người lớn cần trông bé cẩn thận, tránh những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Thanh Tùng
(Theo thanhnien)
(theo thanhnien)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/13/mua-he-can-trong-tai-nan-tr... )
Cây Cỏ hôi còn gọi là Cỏ cứt lợn, Cỏ cứt heo, Cây bù xích .
Tên Khoa học: Ageratum conyzoides L., thuộc họ Cúc – Asteraceae
Mô tả: Cây cỏ sống hàng năm, cao 30 - 50cm.
Thân có lông mềm, màu lục hoặc tím đỏ.
Lá mọc đối, mép khía răng tròn, hai mặt đều có lông, 3 gân tỏa từ gốc lá.
Hoa tím hay trắng, mọc thành ngù đầu ở ngọn.
Quả bế màu đen, có 5 sống dọc.
Loài cây này có mùi rất hắc khi vò ra nhưng lại có mùi thơm khi nấu.
Bộ phận dùng: Toàn cây, trừ rễ. Thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa hạ.
Dùng tươi hay phơi khô. Thường dùng tươi.
Thành phần hóa học: Tinh dầu 0,7 - 2,0%, màu vàng nhạt, gồm: Ageratochromen, Demethoxy, Ageratochromen, Cadinen, Caryophyllen. Ngoài ra còn có Alcaloid, Saponin.
Công dụng: Tác dụng chống viêm, chống dị ứng.
Chủ trị: Chữa viêm mũi, viêm xoang dị ứng: Nhỏ mũi nước ép cây tươi hay dịch chiết cây khô.
Chữa gàu ở tóc: Cây tươi phối hợp với bồ kết, nấu nước gội đầu cho thơm, sạch gầu, trơn tóc.
Theo Đông y: cây cứt lợn có vị cay, hơi đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng. Thường được dùng chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm dạ dày.
Viêm xoang là bệnh hay tái phát, ngoài việc sử dụng kháng sinh, chống viêm, bơm rửa xoang bằng kháng sinh và phẫu thuật đục xoang của YHHĐ thì việc dùng thuốc nam cũng rất hữu ích trong các lần điều trị viêm tái phát.
Bệnh viện đa khoa Hồng Đức đã sử dụng các chế phẩm của Cỏ hôi để điều trị các chứng viêm xoang mũi mạn tính và dị ứng, có kết quả tốt, không gây tác dụng phụ gì đối với cơ thể người bệnh.
www.dongyhongduc.com/content/detail/6/202
Cây cỏ hôi chữa viêm xoang
Cây cỏ hôi trong dân gian thường gọi cây cứt lợn, ngũ vị, tên khoa học: Ageratum Conyzoides-L. Cây cao chừng 25-30 cm, lá mọc đối xứng hình quả trứng hoặc hình ba cạnh, phía trên của lá (lưng lá) màu xanh đậm, phía dưới bụng màu nhạt hơn, lá có lông, sờ nhám, vò nát có mùi thơm dễ chịu (dầu sánh màu vàng). Trong tinh dầu hoa và lá đều có cadinen, caryophyllen, geratockomen, demetoxygeratocromen và một số thành phần khác.
Và mới đây các nhà khoa học còn cho thấy cây này có 3 tác dụng chính chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng.
Ba cơ chế tác dụng này hoàn toàn phù hợp với cơ chế gây viêm xoang từ viêm họng, viêm mũi, viêm mũi dị ứng, viêm họng hạt... điều trị không khỏi hẳn, tình trạng viêm lan tới các xoang gây ra viêm xoang. Khi các hố xoang đã viêm tất nhiên sẽ phù nề gây cản trở đường hô hấp trên, như: ngạt mũi, ứ đọng, tiết dịch... và gây phản ứng cục bộ, sốt, đau đầu...
Một số bài thuốc dùng trong nhân dân
Chữa viêm xoang mũi do dị ứng, viêm mũi dị ứng
Bài 1: Cỏ hôi 100g tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, dùng bông thấm nước nhét vào lỗ mũi.
Bài 2: Cỏ hôi 100g, lá long não 50g, lá chanh 10g.
Cách dùng: Rửa sạch, cho 200ml nước, sắc còn 50ml lít nước, đổ nước ra bát hoặc chén xông lên mũi, ngày xông 3 lần.
Chữa rong huyết ở phụ nữ:
www.yhth.vn/suckhoe/489/489.htm
Hy thiêm 12g, hương phụ chế 10g, ích mẫu thảo 12g, ngải cứu 16g, cỏ hôi 20g. Tất cả rửa sạch, phơi khô. Cho 600ml nước sắc còn 150ml, sắc 2 lần, chia 2 lần uống trong ngày. Thường dùng 3-4 tháng.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ageratum conyzoides L., Asteraceae, is an annual herbaceous plant with a long history of traditional medicinal uses in several countries of the world and also has bioactivity with insecticidal and nematocidal acitivity. This tropical species appears to be a valuable agricultural resource.
BOTANY
Ageratum is derived from the Greek "a geras," meaning non-aging, referring to the longevity of the flowers or the whole plant. The specific epithet "conyzoides" is derived from "kónyz," the Greek name of Inula helenium, which it resembles (Kissmann and Groth 1993).
The synonyms of A. conyzoides include A. album Stend; A. caeruleum Hort. ex. Poir.; A. coeruleum Desf.; A. cordifolium Roxb.; A. hirsutum Lam.; A. humile Salisb.; A. latifolium Car.; A. maritimum H.B.K.; A. mexicanum Sims.; A. obtusifolium Lam.; A. odoratum Vilm. and Cacalia mentrasto Vell. (Jaccoud 1961). In Brazil, A. conyzoides has the following vernacular names: catinga de bode, catinga de barrão, erva de são joão, maria preta, mentrasto, erva de são josé, picão roxo, erva de santa-lúcia, camará-opela, agerato, camará apeba, camará iapó, camará japê, erva de santa maria, macela de são joão, macela francesa, matruço (Jaccoud 1961; Oliveira et al. 1993).
Ageratum ranges from Southeastern North America to Central America, but the center of origin is in Central America and the Caribbean. Most taxa are found in Mexico, Central America, the Caribbean, and Florida. Ageratum conyzoides now is found in several countries in tropical and sub-tropical regions, including Brazil (Baker 1965; Lorenzi 1982; Correa 1984; Cruz 1985).
Johnson (1971), classifies two subspecies, latifolium and conyzoides. Subspecies latifolium is found in all the Americas and subsp. conyzoides has a pantropical distribution. The basic chromosome number is 2n = 20 but natural tetraploids are found. A. conyzoides subsp. latifolium is diploid and A. conyzoides subsp. conyzoides is tetraploid.
Ageratum conyzoides is an erect, herbaceous annual, 30 to 80 cm tall; stems are covered with fine white hairs, leaves are opposite, pubescent with long petioles and include glandular trichomes. The inflorescence contain 30 to 50 pink flowers arranged as a corymb and are self-incompatible (Jhansi and Ramanujam 1987; Kaul and Neelangini 1989; Ramanujam and Kalpana 1992; Kleinschimidt 1993). The fruit is an achene with an aristate pappus and is easily dispersed by wind. In some countries the species is considered a weed, and control is often difficult (Lorenzi 1982; Scheffer 1990; Kalia and Singh 1993; Lam et al. 1993, Paradkar et al. 1993; Waterhouse 1993; Kshatriya et al. 1994). Seeds are positively photoblastic, and viability is often lost within 12 months (Marlks and Nwachuku 1986; Ladeira et al. 1987). The optimum germination temperature ranges from 20 to 25°C (Sauerborn and Koch 1988). The species has great morphological variation, and appears highly adaptable to different ecological conditions.
PHYTOCHEMICAL CHARACTERISTICS
There is high variability in the secondary metabolities of A. conzyoide which include flavonoids, alkaloids, cumarins, essential oils, and tannins. Many of these are biologically active. Essential oil yield varies from 0.02% to 0.16% (Jaccoud 1961). Vyas and Mulchandani (1984) identified conyzorigum, a cromene. Borthakur and Baruah (1986) identified precocene I and precocene II, in a plant collected in India. These compounds have been shown to affect insect development, as antijuvenile hormones, resulting in sterile adults (Borthakur and Baruah 1987). Ekundayo et al. (1988) identified 51 terpenoid compounds, including precocene I and precocene II. Gonzales et al. (1991) found 11 cromenes in essential oils, including a new cromene, 6-angeloyloky-7-methoxy-2,2-dimethylcromen. Vera (1993), in Reunion, found ageratocromene, other cromenes, and beta cariophylene in its essential oil. Mensah et al. (1993) and Menut et al. (1993) reported similar yields of precocene I in the essential oil of plants collected in Ghana.
Vyas and Mulchandani (1986), in India, identified flavones, including some considered new such as ageconyfavones A, B, and C. Horrie et al. (1993) reported hexametoxyflavone. Ladeira et al. (1987) in Brazil, reported three cumarinic compounds, including 1-2 benzopirone. The species contains alkaloids, mainly the pirrolizidinic group, which suggest that it may be a good candidate for pharmacological studies. Trigo et al. (1988) found several alkaloids, including 1,2- desifropirrolizidinic and licopsamine which can have hepatotoxic activity. Alkaloids also were found by Weindenfeld and Roder (1991) in a hexane extract of A. conyzoides in Africa.
FOLK MEDICINAL USES AND PHARMACOLOGICAL STUDIES
A. conyzoides is widely utilized in traditional medicine by various cultures worldwide, although applications vary by region. In Central Africa it is used to treat pneumonia, but the most common use is to cure wounds and burns (Durodola 1977). Traditional communities in India use this species as a bacteriocide, antidysenteric, and antilithic (Borthakur and Baruah 1987), and in Asia, South America, and Africa, aqueous extract of this plant is used as a bacteriocide (Almagboul 1985; Ekundayo et al. 1988). In Cameroon and Congo, traditional use is to treat fever, rheumatism, headache, and colic (Menut et al. 1993; Bioka et al. 1993). In Reunion, the whole plant is used as an antidysenteric (Vera 1993). The use of this species in traditional medicine is extensive in Brazil. Aqueous extracts of leaves or whole plants have been used to treat colic, colds and fevers, diarrhea, rheumatism, spasms, or as a tonic (Penna 1921; Jaccoud 1961; Correa 1984; Cruz 1985; Marques et al. 1988; Negrelle et al. 1988; Oliveira et al. 1993). A. conyzoides has quick and effective action in burn wounds and is recommended by Brazilian Drugs Central as an antirheumatic (Brasil 1989).
Several pharmacological investigations have been conducted to determine efficacy. Duradola (1977) verified inhibitory activities of ether and chloroform extracts against in vitro development of Staphylococus aureus. Almagboul et al. (1985), using methanolic extract of the whole plant, verified inhibitory action in the development of Staphylococus aureus, Bacillus subtilis, Eschericichia coli, and Pseudomonas aeruginosa. Bioka et al. (1993) reported effective analgesic action in rats using aqueous extract of A. conyzoides leaves (100 to 400 mg/kg). Assays realized in Kenia, with aqueous extract of the whole plant, demonstrated muscle relaxing activities, confirming its popular use as an antispasmotic (Achola et al. 1994).
In Brazil, assays conducted by State University of Campinas and Paraiba Federal University) showed promising results. Marques Neto et al. (1988) in clinic trials with patients with arthrosis, administered aqueous extract of the whole plant, and reported analgesic effect in 66% of patients and improvement in articulation mobility in 24%, without side effect. Mattos (1988), using aqueous extract of the whole plant, verified effective clinical control of arthrosis, reporting a decrease in pain and inflammation or improvement in articulation mobility, after a week of treatment.
BIOACTIVITY
Ageratum conyzoides has bioactive activity that may have agricultural use, as shown by several research investigations in different countries. Pereira in 1929, cited by Jaccoud (1961), reported use of the leaves as an insect (moth) repellent. The insecticide activity may be the most important biological activity of this species. The terpenic compounds, mainly precocenes, with their antijuvenile hormonal activity are probably responsible for the insecticide effects.
Assays conducted in Colombia by Gonzalez et al. (1991) showed activity of this species against Musca domestica larvae, using whole plant hexane extract. Vyas and Mulchandani (1980) reported the action of cromenes (precocenes I and II), isolated from Ageratum plants, which accelerate larval metamorphosis, resulted in juvenile forms or weak and small adults.
Ekundayo et al. (1987) also demonstrated the juvenilizing hormonal action of precocene I and II in insects, the most common effect being precocious metamorphosis, producing sterile or dying adults. Raja et al (1987), using A. conyzoides methanolic extract from fresh leaves (250 and 500 ppm) in the fourth instar of Chilo partellus (Lepidoptera, Pyralidae), a sorghum pest, observed the presence of a dark stain in the insects' cuticle and immature pupae formation, both symptoms of deficiency of juvenile hormone.
A. conyzoides also induces morphogenetic abnormalities in the formation of mosquitoes larvae (Culex quinquefasciatus, Aedes aegypt, and Anopheles stephensi). This has been verified using petroleum ether extracts (5 and 10 mg/L) of the whole plants. The larvae showed intermediary stages between larvae–pupae, discolored and longer pupae, as well as incompletely developed adults (Sujatha et al. 1988). Extracts of the flowers of this species showed activity against mosquitoes (Anopheles stephensi), in the last instar, showing DL 50 with 138 ppm (Kamal and Mehra 1991).
Cetonic extracts of the species produced significant effects against the mosquito, Culex quinquefasciatus, in India, when applied to fourth instar larvae and adult females. In larvae, the extracts produced altered individuals, intermediate between larvae and pupae, unmelaninized and with inhibition of development, as well as adults with deformed wings muscles. In female adults, there was loss of fecundity, lower eggs production, and production of defective eggs (Saxena et al. 1992). Similar results were observed in larvae of Anopheles stephensi and Culex quinquefasciatus in others essays, confirming the antijuvenile potential of A. conyzoides (Saxena and Saxena 1992; Saxena et al. 1994).
The species also has potential use in controlling other pests. Shabana et al. (1990), using aqueous extract of the whole plant, verified reduction of larvae emergence of Meloidogyne incognita. Pu et al. (1990) and Liang et al. (1994), verified that plants of A. conyzoides in Citrus orchards sheltered predators of the spider Panonychus citri, suggesting that its development in orchards is beneficial. Other Citrus spiders populations, Phyllocoptruta oleivora and Brevipalpus phoenicis were decreased with maintenance of A. conyzoides in the orchards and a reduction of leprosy virus was noted (Gravena et al. 1993)
The presence of A. conyzoides can also be used as an seed inhibitor, decreasing development of several herbaceous plants. Jha and Dhakal (1990) in Nepal, reported that an aqueous extract of the aerial part or roots of this species (15 g of aerial part or 3 g of roots in 100 ml of water, during 24 h) inhibited germination of wheat and rice seeds while Prasad and Srivastava (1991) in India, reported a lower germination index in peanut seeds with aqueous extract.
CULTURAL STUDIES
Magalhaes et al. (1989) in Brazil evaluated fertilizer studies and plant density on biomass production of A. conzyzoides. The higher the N level, the higher the biomass production (dry weight basis). Optimum spacing was 70 cm between rows and 50 cm between plants. Biomass yields was 1.3 t (dry weight)/ha.
Correa Jr. et al. (1991) obtained biomass yields of 3.3 to 5.3 t (fresh wt)/ha. Essential oil content was 0.02% (fresh wt) and 0.16 % (dry wt) in the preflowering state. Preliminary data of Ming (1998) indicated that essential oils, higher in leaves than in flowers, peaked during early-flowering.
FUTURE POTENTIAL
There are some small pharmaceutical companies in Brazil using A. conyzoides as a raw material for phytochemicals. The demand is increasing year by year and this situation warrants further scientific research to develop both agricultural and medical uses. Research on medicinal plants should be focused primarily on species whose pharmaceutical activities have already been demonstrated. Positive preliminary clinical assays of A. conyzoides clearly demonstrate that this species may be an important economic resource in several tropical countries. The use of this species as a natural biocide or agent for pest management particularly requires further investigation.
“Thời tiết nóng nên ăn đậu để làm mát cơ thể” là lời khuyên của người xưa. Tuy nhiên, đa phần chúng ta đều xem sữa đậu nành là một thứ đồ uống hay cùng lắm là tào phớ, đậu phụ. Thực ra, sữa đậu nành cho vào nhiều món ăn.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Sua-dau-...
1. Sữa đậu nành nấu cơm
Lấy đậu vàng xay thành nước, bỏ bã, dùng nước đậu nành đó thay thế nước lạnh cho vào nồi cơm điện nấu lên cùng gạo. Mùi vị thơm nhẹ, cơm vừa miệng, có thể phát huy được hết tác dụng hỗ trợ dinh dưỡng của đậu và gạo. Mùa hè ăn kiểu cơm này rất mát mẻ, bổ dưỡng và mạnh khỏe.
2. Cháo sữa đậu nành
Nếu sữa đậu nành có thể nấu thành cơm thì chắc chắn có thể nấu thành cháo. Lấy phần cơm nguội còn thừa lại trong nồi, thêm vào một luợng nước thích hợp nấu thành cháo, sau đó cho vào một ít sữa đậu nành tiếp tục nấu thêm mấy phút nữa và lấy ra ăn là được.
Nếu không muốn lãng phí bã đậu thì cũng có thể cho vào nấu cùng. Cháo sữa đậu nành có hương vị thanh mát của đậu nành và vị ngon mềm của gạo. Cháo này có thể dùng cho bữa sáng hoặc làm món ăn tối trước khi đi ngủ.
3. Bánh sữa đậu nành
Thêm vào một ít bã đậu nành đã xay vào trong bột mỳ đã hòa cùng với nước, sau đó cho vào một quả trứng gà và một ít hành lá để cho đẹp, sau đó bắc chảo rán lên thành bánh mỳ sữa đậu nành. Chất xơ ở trong bã sữa đậu nành có chất đường thấp, isoflavo và khoáng chất được lợi dụng toàn diện, mùi vị lại rất thơm ngon. Chú ý bã đậu nành khá rời nhau vì vậy bột mỳ không nên quá loãng.
4. Súp sữa đậu nành trứng
Dùng sữa đậu nành thay thế nước lạnh để hấp làm súp trứng sữa đậu nành, tỉ lệ là trứng gà 1 phần, sữa đậu nành 2-3 phần. Thêm vào các gia vị khác như muối, hạt tiêu, hạt nêm từ thịt gà, dầu thơm và một chút rượu, ngoài ra có thể thêm vào nhân tôm, nấm Hương, hành hoa và rau mùi.
Mùa hè chúng ta nên ăn nhiều đậu, có thể bổ sung những loại vitamin B và các nguyên tố kali, Magie… bị mất đi qua mồ hôi, vừa có thể bổ sung thêm protein, đây là cách tốt nhất để dành được dinh dưỡng và mỹ vị thơm ngon.
Lưu ý giá trị dinh dưỡng
Sữa đậu nành thơm mát bổ tim, có vị ngọt, có tác dụng tẩy trừ nóng bổ máu. Táo đỏ là “thánh phẩm” bổ khí dưỡng máu, đồng thời là vật phẩm có giá trị dinh dưỡng rất cao, chỉ cần đùng táo đỏ không cần phải mua các vật phẩm đắt đỏ khác để bồi bổ, nếu dùng táo đỏ đúng cách còn có tác dụng dưỡng sinh bảo vệ sức khỏe.
Ngoài ra, táo đỏ có thể nâng cao sức đề kháng cho cơ thể, có thể thúc đẩy tế bào bạch cầu sinh thành, giảm thấp cholestrerol huyết thanh, nâng cao protein huyết thanh,bảo vệ gan, trong táo đỏ còn hàm chứa tế bào khống chế ung thư, thậm chí có thể làm cho tế bào ung thư chuyển hóa thành tế bào thông thường.
Dương Hằng - Theo xinhuanet
(theo dantri)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/11/sua-dau-nanh-va-cac-mon-an-... )
Nếu cần phải sử dụng thuốc ngủ, bạn hãy lưu ý những điều sau:
1. Không được sử dụng rượu khi uống thuốc ngủ
Theo khuyến cáo của giới chuyên môn, sử dụng thuốc ngủ không nên uống rượu, tuy nhiên cũng có trường hợp nhiều người không thể bỏ được, nhất là khi nghỉ cuối tuần, phải tiếp khách...
Các chuyên gia ở Trung tâm điều trị bệnh rối loạn giấc ngủ Kettering (SDC) của Mỹ khuyến cáo, trong trường hợp không kiêng được thì chỉ nên uống 1-2 chén rượu nhỏ hoặc 2 cốc bia.
Nên uống vào buổi chiều trước khi đi ngủ ít nhất là 6 tiếng. Lý do, cồn có trong đồ uống này là chất kích thích và có thể can thiệp làm tăng tác dụng phụ của thuốc ngủ giống như đối với thuốc giảm đau. Tốt nhất khi đã phải sử dụng thuốc ngủ thì không nên uống rượu.
2. Ăn quá no
Ăn quá no, nhất là trong trường hợp lễ tết, cuối tuần sẽ làm con người ta cảm thấy khó chịu và tăng khả năng mất ngủ ở nhóm người phải dùng đến thuốc ngủ.
Ăn quá no cho dù vào thời điểm nào trong ngày cũng đều gây bất lợi. Khi lượng đường trong máu tăng cao sẽ làm cho cơ thể có thêm năng lượng dẫn đến khó ngủ.
Với lý do trên những người mắc bệnh khó ngủ chỉ nên ăn khoảng 80% so với mức vừa đủ, không nên ăn quá no vào gần giờ đi ngủ.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/8-luu-y-...
3. Không nên làm tăng stress
Trong trường hợp căng thẳng nếu dùng thuốc ngủ sẽ kém hiệu quả. Đó là kết luận rút ra từ nghiên cứu của các chuyên gia ở SDC đưa ra mới đây sau khi nghiên cứu ở nhóm người mất ngủ phải dùng thuốc.
Trường hợp stress cao mà người ta quen gọi là bồn chồn, lo lắng thì nên tư vấn bác sĩ để thay liều hoặc sử dụng loại thuốc khác có hiệu quả hơn. Ví dụ, có thể áp dụng liệu pháp thôi miên, thậm chí cả thuốc chống trầm cảm cũng sẽ có tác dụng tốt hơn.
4. Thuốc ngủ có thể tương tác với các loại dược phẩm khác
Vào mùa lạnh, nhất là lúc giao mùa, bệnh cảm, cảm cúm phát triển mạnh, stress tăng cao sẽ làm suy yếu sức khỏe hệ miễn dịch cũng dễ gây mất ngủ.
Trong trường hợp này nếu dùng thuốc ngủ cùng với các loại thuốc không kê đơn (OTC) để chữa cảm cúm cũng dễ dẫn đến tình trạng phản ứng nghịch, gây bất lợi và làm giảm tác dụng của thuốc ngủ.
Ví dụ như hợp chất benadryl có trong diphenhydramine, đây là thuốc có chứa thành phần giảm đau nên giới chuyên môn khuyến cáo không nên uống trước 4 giờ khi đi ngủ. Nó sẽ làm giảm tác dụng thuốc ngủ, trong trường hợp dùng nhiều loại thuốc với thuốc ngủ thì nên tư vấn kỹ bác sĩ.
5. Không nên dùng thuốc ngủ khi đi du lịch qua 2 nơi có múi giờ khác nhau
Trường hợp du lịch khác múi giờ việc dùng thuốc ngủ sẽ không có tác dụng.
Trong trường hợp này nên dùng melatonin trước 1 giờ khi đi ngủ sẽ có tác dụng hoặc tư vấn bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thuốc nào để cho phù hợp với điều kiện địa lý cũng như sức khỏe của bản thân.
6. Cần biết cụ thể tác dụng của thuốc để đi ngủ và thức dậy đúng giờ
Hầu hết các loại thuốc ngủ có hiệu quả trong vòng 8 giờ vì vậy cần tư vấn để dùng thuốc cho đúng tiến độ không nên uống thuốc muộn quá hoặc dậy sớm quá.
Nếu trường hợp không quá bận thì ngủ theo đúng giờ quy định của thuốc, nếu dậy sớm mà vẫn còn trong trạng thái buồn ngủ thì rất nguy hiểm, nhất là khi điều khiển các phương tiện giao thông. Trong trường hợp này nên tư vấn bác sĩ dùng thuốc có tác dụng ngắn hơn.
7. Nên tạo ra môi trường ngủ thân thiện
Có những người khi dùng thuốc ngủ nhưng do lạ phòng, lạ giường vẫn khó ngủ.
Trong trường hợp này giới chuyên môn khuyên nên mang theo vật dụng cá nhân như chăn, gối, mạng che mặt vv...hoặc có thể ngủ riêng theo sở thích hoặc chọn những nơi yên tĩnh để ngủ
8. Áp dụng các thói quen tự nhiên
Mặc dù thuốc ngủ có thể giúp con người ngủ được nhưng để mang lại lợi ích cao nhất và lâu dài về mặt sức khỏe không nên lệ thuộc vào thuốc ngủ. Nếu cần có thể ngừng thuốc và chuyển sang áp dụng các kỹ thuật mang tính tự nhiên, thân thiện.
Tăng cường luyện tập để giảm stress, ăn uống khoa học, bỏ thuốc lá, rượu bia, giảm cân, tìm các liệu pháp luyện tập như dưỡng sinh, giao tiếp bạn bè tư vấn bác sĩ để tạo ra cuộc sống thoải mái, vô tư từ đó giấc ngủ đến nhanh hơn và chất lượng hơn.
(Theo Tiền phong)
(source: tin180.com/suckhoe/?p=10092 )
*http://tin180.com/suckhoe/?p=9016
Theo nghiên cứu mới nhất, một chiếc túi đựng mỹ phẩm thường là nơi tích trữ các loại mỹ phẩm quá hạn sử dụng tới 4 năm. Và một số phụ nữ có thể tiếp tục sử dụng những sản phẩm này tới 15 năm so với hạn sử dụng.
*http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/02/O-vi-khuan-trong-tui-my-pham_Tin180.com_001.jpg
Những đồ dùng đáng yêu thường được chị em cất trong những chiếc túi nhỏ xinh xắn nhưng cần lưu ý: những lọ chải mi và các thỏi dưỡng môi có thể rất nguy hiểm.
Cây chải mascara cũ có thể là nơi nuôi dưỡng vi khuẩn gây viêm màng kết, mà có thể dẫn tới đỏ, ngứa và sưng mắt. Chúng không nên dùng quá 6 tháng sau khi mở nắp - nhưng phụ nữ thường cố dùng nó trung bình là 1 năm. Dưỡng môi quá hạn sẽ làm môi bị khô, kích ứng và phồng rộp.
Phấn mắt và phấn má có hạn dùng sau khi mở tối đa là 18-24 tháng, có thể cất giữ 180 tháng (15 năm).
Dưỡng môi có hạn dùng tới 2 năm và có thể bảo quản khi chưa mở hộp là 10 năm.
Mascara có hạn dùng sau mở là 4-6 tháng, bảo quản là 12 tháng.
Chì kẻ mắt có hạn dùng là 18 tháng, bảo quản 96 tháng.
Nước hoa có hạn dùng 36 tháng. Bảo quản 96 tháng.
Kẻ viền mắt/môi hạn dùng là 8 tháng, bảo quản 12 tháng.
Cọ đánh má bẩn có thể là môi trường lý tưởng cho các siêu vi gây herpes, hắc lào và chốc lở, những bệnh viêm nhiễm gây bong tróc da.
Các sản phẩm làm đẹp, cũng như thực phẩm không thể có hạn dùng mãi mãi. Khi quá hạn, vi khuẩn có thể xâm nhập, rồi chúng được thoa lên da mặt, gây ra kích ứng hay thậm chí là viêm nhiễm.
Vì thế, cách đây 5 năm, quy đình về thời hạn sử dụng sau mở nắp đã được áp dụng trên toàn EU. Nhiều nhà sản xuất đã thêm biểu tượng “thời hạn dùng sau khi mở nắp” để người tiêu dùng nắm được thông tin nhưng theo nghiên cứu của tập đoàn thương mại Debenhams, 89% phu nữ không biết có thông tin này, không hiểu nó hay đơn giản là không thể đọc vì chữ quá nhỏ. 68% cho biết họ chỉ bỏ các mỹ phẩm hay sản phẩm chăm sóc da khi chúng có biểu hiện hỏng, còn không quan tâm thời hạn được dùng. Hơn 72% chưa bao giờ giặt bông dặm phấn hay các loại chổi trang điểm.
Nhân Hà
(Theo DM, dantri)
*http://tin180.com/suckhoe/?p=9016
🌟 Ergophobia: Khi Công Việc Trở Thành Nỗi Ám Ảnh Đáng Sợ 🌟
Ergophobia - nỗi sợ hoặc ác cảm mãnh liệt với công việc - không chỉ là lời bào chữa cho sự lười biếng. Đây là một rối loạn tâm lý thực sự, khiến người mắc cảm thấy lo lắng, căng thẳng, thậm chí hoảng loạn trước bất kỳ hoạt động nào liên quan đến công việc.
Người mắc hội chứng này không phải không muốn nỗ lực, mà họ thực sự không thể kiểm soát được nỗi sợ hãi vô lý của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống, sức khỏe tinh thần và hiệu suất làm việc của họ.
Dấu hiệu nhận biết Ergophobia:
Lo lắng, căng thẳng quá mức khi nghĩ đến công việc
Tránh né, trì hoãn hoặc không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ
Các triệu chứng thể chất như tim đập nhanh, run rẩy, đổ mồ hôi
Né tránh tiếp xúc với đồng nghiệp, từ chối nhiệm vụ mới
🎯 Hãy nhớ rằng, Ergophobia cần được can thiệp và điều trị kịp thời. Nếu bạn hoặc ai đó bạn biết đang gặp phải những triệu chứng này, đừng ngần ngại tìm kiếm sự hỗ trợ từ chuyên gia tâm lý. Công việc không nên là gánh nặng, mà là nơi để bạn phát triển và khẳng định giá trị bản thân. 💪✨
Thông tin chi tiết tại: tapchitamlyhoc.com/hoi-chung-ergophobia-16098.html
#Ergophobia #TạpChíTâmLýHọc #SợLàmViệc #SứcKhỏeTâmThần #PhátTriểnBảnThân #ChămSócTâmHồn #SứcKhỏe #MentalHealthAwareness #WorkAnxiety #Phobia
Giấc đêm bị “xé nát” vì con không chịu ngủ ngoan là nỗi kinh hoàng của những ông bố bà mẹ “vừa lên chức”. Bạn có biết, chỉ cần bỏ công huấn luyện bé một chút, buổi đêm cha mẹ sẽ đỡ vất vả hơn nhiều?
Em bé nên ngủ bao nhiêu?
Trước hết bạn cần hiểu, bé ngủ “trọn giấc” không có nghĩa là ngủ một mạch từ tối cho đến tận bình minh. Cữ ngủ của bé thay đổi theo lứa tuổi.
Con tầm 2 tháng tuổi, bạn sẽ nhận thấy rằng bé không còn thức suốt đêm như dạo trong tháng nữa, chỉ tỉnh giấc 1-2 lần để ăn. 4 tháng tuổi, hầu hết các bé có thể ngủ liền 8 tiếng mà không cần thức dậy ăn sữa. Đến tuổi ăn dặm (6 tháng) giấc đêm của bé có thể còn dài hơn, 8 đến 10 tiếng.
Nhưng ngay cả khi bé nhà bạn không ngủ đến 10 tiếng, bạn vẫn luyện được cho bé ngủ trong khoảng thời gian dài tối đa có thể.
Ban ngày là thời gian để chơi
Để bé có giấc ngủ ngon hàng đêm, bạn cần lên kế hoạch chu đáo từ lúc ban ngày. Hãy cố gắng tách bạch ngày và đêm rõ ràng cho bé. Ban ngày là thời gian để chơi, bạn nên duy trì các tác nhân gây kích thích để bé không buồn ngủ. Ngay cả trong cữ ngủ ngắn ban ngày, vẫn nên có tác nhân kích thích như phòng sáng hơn, bé ngủ trong không gian đừng quá yên tĩnh.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/07/Giup-be-...
Các việc làm trở thành thói quen mỗi tối sẽ là dấu hiệu cho bé thấy sắp đến giờ đi ngủ.
(Ảnh minh họa)
Với giấc ngủ đêm, cha mẹ nên giữ phòng tối, nếu cần chút ánh sáng bạn chỉ nên để đèn ngủ nấc nhỏ nhất, hạn chế tối đa các tác nhân kích thích như ánh sáng, tiếng ồn. Khi phải thay bỉm cho bé lúc nửa đêm, hãy nhẹ nhàng và hạn chế các thao tác hết mức có thể. Như vậy bé sẽ hiểu, đây là thời gian ngủ và chẳng ai nên thức dậy chơi ầm ĩ làm gì.
“Thủ tục” mỗi tối
Các việc làm trở thành thói quen mỗi tối sẽ là dấu hiệu cho bé thấy sắp đến giờ đi ngủ. Nếu hàng ngày trước giờ ngủ bé đều trải qua các việc như tắm, ti bình, nghe mẹ đọc sách, được mẹ đưa nôi v.v., thì khi thực hiện những công việc ấy, bé sẽ hiểu: “À, sắp đến lúc đi ngủ rồi”.
Em bé sẽ quen dần với nề nếp sinh hoạt cha mẹ thiết lập, tới nỗi khi buồn ngủ, được bố mẹ đặt vào gường, bé cảm thấy rất thư giãn và tự mình chìm dần vào giấc ngủ.
Lưu ý
Một “kỹ nghệ” quan trọng luyện cho con ngủ ngoan là đừng đặt bé vào cũi khi bé đã ngủ say. Hãy làm việc đó sớm hơn, từ khi mi mắt bé đã nặng trĩu vì cơn buồn ngủ đang đến cực gần. Cách đó, bé biết tự dỗ giấc bản thân. Và nửa đêm dù có tỉnh bé vẫn biết tự xoay xở để quay về thế giới thần tiên mà không cần khóc hay làm phiền đến bạn.
(Theo Webtretho)
(source: tin180.com/suckhoe/2010/07/15/giup-be-con-tron-giac/ )
Lễ Tết là lúc mọi người hay cho phép bản thân mình thoải mái. Tuy nhiên, nó có thể gây hại cho sức khỏe của bạn.
Hãy khám phá một số tuyệt chiêu giữ sức khỏe sau đây để tận hưởng một cái tết trọn vẹn bên gia đình.
Không nên ngồi một chỗ quá lâu
Thời gian nghỉ Tết thường tụ tập bạn bè mở tiệc uố...
Xem bài viết gốc tại đây: ytalanda.com/2015/12/30/mach-ban-tuyet-chieu-giu-suc-khoe...
*http://tin180.com/suckhoe/?p=8654
Nhịn ăn, kiêng thịt, giảm ăn các thực phẩm có đường, giàu chất béo... được cho là cách giúp chị em giữ dáng. Nhưng theo các chuyên gia dinh dưỡng, đây là những "bí quyết" sai.
Theo Goodtoknow, dưới đây là vài sai lầm phổ biến mà chị em hay mắc khi muốn tránh béo bụng:
Bỏ bữa
Nhịn ăn để giảm béo? Điều này luôn phản tác dụng bạn ạ. Khi đói quá, bạn sẽ ăn quá nhiều và điều này sẽ khiến bạn càng dễ béo hơn. Thay vào đó, hãy ăn các bữa nhỏ, khoảng 3-4 giờ một lần, để lúc nào cũng cảm thấy no và không sợ béo.
Ăn chay
Phụ nữ thường tránh những thức ăn từ thịt, cá và các sản phẩm làm từ sữa bởi họ nghĩ chúng chứa nhiều calo và chất béo. Nhưng hãy nhớ rằng, những thực phẩm này rất giàu protein, giúp thúc đẩy sự trao đổi chất trong cơ thể bạn, vì vậy giúp bạn giảm béo bụng. Nếu không muốn cơ thể nạp quá nhiều năng lượng, bạn có thể chọn những sản phẩm có lượng calo thấp hay ít béo như pho mát làm từ sữa đã gạn kem hay thịt cá ngừ.
Coi bánh mỳ là kẻ thù
Đúng là ăn nhiều bánh mỳ trắng có thể khiến bạn tích mỡ nhưng bánh mỳ đen và các loại ngũ cốc lại khác. Những thực phẩm này giúp lượng insulin trong cơ thể bạn tăng dần dần chứ không tích tụ nhiều một lúc, hạn chế khả năng bạn bị béo bụng. Tất nhiên, nếu ngày nào bạn cũng ăn nhiều các thức này thì lại là chuyện khác.
Mải miết tập các động tác gập bụng
Động tác này sẽ tốt cho cơ bắp nhưng chúng không có bất cứ tác động nào đến độ béo của bụng bạn. Dù bạn có gập 50, 100, thậm chí 500 cái mỗi ngày cũng không giúp bạn giảm size khi đi chọn quần. Thay vì phí thời gian vào việc này, hãy dành thêm 10 phút để chạy bộ mỗi ngày bạn ạ.
Uống rượu, bia dù không thường xuyên
Cồn có rất nhiều năng lượng không tốt cho bạn. Vì vậy, khi bạn uống say, theo các nhà dinh dưỡng, các cơ bắp của bạn sẽ bị nhão đi. Vì vậy, nếu thèm rượu, hãy uống một chút rượu vang đỏ - nó được các nhà nghiên cứu đảm bảo là tốt cho sức khỏe.
Ăn những sản phẩm không đường
Bạn nghĩ rằng chọn sữa chua không đường hay đồ uống dành riêng cho người ăn kiêng hoặc các loại thức ăn nhanh nghèo chất béo, ít năng lượng sẽ giúp giảm cân. Nhưng những thức này thường đi liền với những chất làm ngọt nhân tạo - thứ mà một số nhà dinh dưỡng tin rằng sẽ làm tăng việc dự trữ chất béo cho cơ thể bạn.
Coi thực phẩm giàu chất béo là kẻ thù
Điều này nghe có vẻ khác thường, nhưng những thực phẩm giàu chất béo chưa no giúp bạn giảm béo vùng bụng và cũng làm bạn tiêu thụ ít thực phẩm đi. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên bạn nên thêm một phần tư miếng lê vào chiếc bánh sandwich hay phết một chút dầu olive và dấm lên món salad của mình nếu quá ngấy
*http://tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/02/7-thoi-quen-giu-eo-sai-lam_Tin180.com_001.jpg
Vương Linh
(theo Vnexpress)
*http://tin180.com/suckhoe/?p=8654
Táo bón xảy ra với hầu hết mọi người tùy mức độ và thời điểm, ở mọi lứa tuổi. Thường thì phụ nữ bị nhiều hơn nam giới, người lớn tuổi bị nhiều hơn thanh niên.
Người mắc chứng táo bón thường rất khổ sở, khi táo bón trở nên trầm trọng hơn, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.
Những...
yeumoingay.com/suc-khoe/dung-doi-den-khi-bi-tao-bon-moi-n...
Cây Cỏ hôi còn gọi là Cỏ cứt lợn, Cỏ cứt heo, Cây bù xích .
Tên Khoa học: Ageratum conyzoides L., thuộc họ Cúc – Asteraceae
Mô tả: Cây cỏ sống hàng năm, cao 30 - 50cm.
Thân có lông mềm, màu lục hoặc tím đỏ.
Lá mọc đối, mép khía răng tròn, hai mặt đều có lông, 3 gân tỏa từ gốc lá.
Hoa tím hay trắng, mọc thành ngù đầu ở ngọn.
Quả bế màu đen, có 5 sống dọc.
Loài cây này có mùi rất hắc khi vò ra nhưng lại có mùi thơm khi nấu.
Bộ phận dùng: Toàn cây, trừ rễ. Thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa hạ.
Dùng tươi hay phơi khô. Thường dùng tươi.
Thành phần hóa học: Tinh dầu 0,7 - 2,0%, màu vàng nhạt, gồm: Ageratochromen, Demethoxy, Ageratochromen, Cadinen, Caryophyllen. Ngoài ra còn có Alcaloid, Saponin.
Công dụng: Tác dụng chống viêm, chống dị ứng.
Chủ trị: Chữa viêm mũi, viêm xoang dị ứng: Nhỏ mũi nước ép cây tươi hay dịch chiết cây khô.
Chữa gàu ở tóc: Cây tươi phối hợp với bồ kết, nấu nước gội đầu cho thơm, sạch gầu, trơn tóc.
Theo Đông y: cây cứt lợn có vị cay, hơi đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng. Thường được dùng chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm dạ dày.
Viêm xoang là bệnh hay tái phát, ngoài việc sử dụng kháng sinh, chống viêm, bơm rửa xoang bằng kháng sinh và phẫu thuật đục xoang của YHHĐ thì việc dùng thuốc nam cũng rất hữu ích trong các lần điều trị viêm tái phát.
Bệnh viện đa khoa Hồng Đức đã sử dụng các chế phẩm của Cỏ hôi để điều trị các chứng viêm xoang mũi mạn tính và dị ứng, có kết quả tốt, không gây tác dụng phụ gì đối với cơ thể người bệnh.
www.dongyhongduc.com/content/detail/6/202
Cây cỏ hôi chữa viêm xoang
Cây cỏ hôi trong dân gian thường gọi cây cứt lợn, ngũ vị, tên khoa học: Ageratum Conyzoides-L. Cây cao chừng 25-30 cm, lá mọc đối xứng hình quả trứng hoặc hình ba cạnh, phía trên của lá (lưng lá) màu xanh đậm, phía dưới bụng màu nhạt hơn, lá có lông, sờ nhám, vò nát có mùi thơm dễ chịu (dầu sánh màu vàng). Trong tinh dầu hoa và lá đều có cadinen, caryophyllen, geratockomen, demetoxygeratocromen và một số thành phần khác.
Và mới đây các nhà khoa học còn cho thấy cây này có 3 tác dụng chính chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng.
Ba cơ chế tác dụng này hoàn toàn phù hợp với cơ chế gây viêm xoang từ viêm họng, viêm mũi, viêm mũi dị ứng, viêm họng hạt... điều trị không khỏi hẳn, tình trạng viêm lan tới các xoang gây ra viêm xoang. Khi các hố xoang đã viêm tất nhiên sẽ phù nề gây cản trở đường hô hấp trên, như: ngạt mũi, ứ đọng, tiết dịch... và gây phản ứng cục bộ, sốt, đau đầu...
Một số bài thuốc dùng trong nhân dân
Chữa viêm xoang mũi do dị ứng, viêm mũi dị ứng
Bài 1: Cỏ hôi 100g tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước, dùng bông thấm nước nhét vào lỗ mũi.
Bài 2: Cỏ hôi 100g, lá long não 50g, lá chanh 10g.
Cách dùng: Rửa sạch, cho 200ml nước, sắc còn 50ml lít nước, đổ nước ra bát hoặc chén xông lên mũi, ngày xông 3 lần.
Chữa rong huyết ở phụ nữ:
www.yhth.vn/suckhoe/489/489.htm
Hy thiêm 12g, hương phụ chế 10g, ích mẫu thảo 12g, ngải cứu 16g, cỏ hôi 20g. Tất cả rửa sạch, phơi khô. Cho 600ml nước sắc còn 150ml, sắc 2 lần, chia 2 lần uống trong ngày. Thường dùng 3-4 tháng.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Ageratum conyzoides L., Asteraceae, is an annual herbaceous plant with a long history of traditional medicinal uses in several countries of the world and also has bioactivity with insecticidal and nematocidal acitivity. This tropical species appears to be a valuable agricultural resource.
BOTANY
Ageratum is derived from the Greek "a geras," meaning non-aging, referring to the longevity of the flowers or the whole plant. The specific epithet "conyzoides" is derived from "kónyz," the Greek name of Inula helenium, which it resembles (Kissmann and Groth 1993).
The synonyms of A. conyzoides include A. album Stend; A. caeruleum Hort. ex. Poir.; A. coeruleum Desf.; A. cordifolium Roxb.; A. hirsutum Lam.; A. humile Salisb.; A. latifolium Car.; A. maritimum H.B.K.; A. mexicanum Sims.; A. obtusifolium Lam.; A. odoratum Vilm. and Cacalia mentrasto Vell. (Jaccoud 1961). In Brazil, A. conyzoides has the following vernacular names: catinga de bode, catinga de barrão, erva de são joão, maria preta, mentrasto, erva de são josé, picão roxo, erva de santa-lúcia, camará-opela, agerato, camará apeba, camará iapó, camará japê, erva de santa maria, macela de são joão, macela francesa, matruço (Jaccoud 1961; Oliveira et al. 1993).
Ageratum ranges from Southeastern North America to Central America, but the center of origin is in Central America and the Caribbean. Most taxa are found in Mexico, Central America, the Caribbean, and Florida. Ageratum conyzoides now is found in several countries in tropical and sub-tropical regions, including Brazil (Baker 1965; Lorenzi 1982; Correa 1984; Cruz 1985).
Johnson (1971), classifies two subspecies, latifolium and conyzoides. Subspecies latifolium is found in all the Americas and subsp. conyzoides has a pantropical distribution. The basic chromosome number is 2n = 20 but natural tetraploids are found. A. conyzoides subsp. latifolium is diploid and A. conyzoides subsp. conyzoides is tetraploid.
Ageratum conyzoides is an erect, herbaceous annual, 30 to 80 cm tall; stems are covered with fine white hairs, leaves are opposite, pubescent with long petioles and include glandular trichomes. The inflorescence contain 30 to 50 pink flowers arranged as a corymb and are self-incompatible (Jhansi and Ramanujam 1987; Kaul and Neelangini 1989; Ramanujam and Kalpana 1992; Kleinschimidt 1993). The fruit is an achene with an aristate pappus and is easily dispersed by wind. In some countries the species is considered a weed, and control is often difficult (Lorenzi 1982; Scheffer 1990; Kalia and Singh 1993; Lam et al. 1993, Paradkar et al. 1993; Waterhouse 1993; Kshatriya et al. 1994). Seeds are positively photoblastic, and viability is often lost within 12 months (Marlks and Nwachuku 1986; Ladeira et al. 1987). The optimum germination temperature ranges from 20 to 25°C (Sauerborn and Koch 1988). The species has great morphological variation, and appears highly adaptable to different ecological conditions.
PHYTOCHEMICAL CHARACTERISTICS
There is high variability in the secondary metabolities of A. conzyoide which include flavonoids, alkaloids, cumarins, essential oils, and tannins. Many of these are biologically active. Essential oil yield varies from 0.02% to 0.16% (Jaccoud 1961). Vyas and Mulchandani (1984) identified conyzorigum, a cromene. Borthakur and Baruah (1986) identified precocene I and precocene II, in a plant collected in India. These compounds have been shown to affect insect development, as antijuvenile hormones, resulting in sterile adults (Borthakur and Baruah 1987). Ekundayo et al. (1988) identified 51 terpenoid compounds, including precocene I and precocene II. Gonzales et al. (1991) found 11 cromenes in essential oils, including a new cromene, 6-angeloyloky-7-methoxy-2,2-dimethylcromen. Vera (1993), in Reunion, found ageratocromene, other cromenes, and beta cariophylene in its essential oil. Mensah et al. (1993) and Menut et al. (1993) reported similar yields of precocene I in the essential oil of plants collected in Ghana.
Vyas and Mulchandani (1986), in India, identified flavones, including some considered new such as ageconyfavones A, B, and C. Horrie et al. (1993) reported hexametoxyflavone. Ladeira et al. (1987) in Brazil, reported three cumarinic compounds, including 1-2 benzopirone. The species contains alkaloids, mainly the pirrolizidinic group, which suggest that it may be a good candidate for pharmacological studies. Trigo et al. (1988) found several alkaloids, including 1,2- desifropirrolizidinic and licopsamine which can have hepatotoxic activity. Alkaloids also were found by Weindenfeld and Roder (1991) in a hexane extract of A. conyzoides in Africa.
FOLK MEDICINAL USES AND PHARMACOLOGICAL STUDIES
A. conyzoides is widely utilized in traditional medicine by various cultures worldwide, although applications vary by region. In Central Africa it is used to treat pneumonia, but the most common use is to cure wounds and burns (Durodola 1977). Traditional communities in India use this species as a bacteriocide, antidysenteric, and antilithic (Borthakur and Baruah 1987), and in Asia, South America, and Africa, aqueous extract of this plant is used as a bacteriocide (Almagboul 1985; Ekundayo et al. 1988). In Cameroon and Congo, traditional use is to treat fever, rheumatism, headache, and colic (Menut et al. 1993; Bioka et al. 1993). In Reunion, the whole plant is used as an antidysenteric (Vera 1993). The use of this species in traditional medicine is extensive in Brazil. Aqueous extracts of leaves or whole plants have been used to treat colic, colds and fevers, diarrhea, rheumatism, spasms, or as a tonic (Penna 1921; Jaccoud 1961; Correa 1984; Cruz 1985; Marques et al. 1988; Negrelle et al. 1988; Oliveira et al. 1993). A. conyzoides has quick and effective action in burn wounds and is recommended by Brazilian Drugs Central as an antirheumatic (Brasil 1989).
Several pharmacological investigations have been conducted to determine efficacy. Duradola (1977) verified inhibitory activities of ether and chloroform extracts against in vitro development of Staphylococus aureus. Almagboul et al. (1985), using methanolic extract of the whole plant, verified inhibitory action in the development of Staphylococus aureus, Bacillus subtilis, Eschericichia coli, and Pseudomonas aeruginosa. Bioka et al. (1993) reported effective analgesic action in rats using aqueous extract of A. conyzoides leaves (100 to 400 mg/kg). Assays realized in Kenia, with aqueous extract of the whole plant, demonstrated muscle relaxing activities, confirming its popular use as an antispasmotic (Achola et al. 1994).
In Brazil, assays conducted by State University of Campinas and Paraiba Federal University) showed promising results. Marques Neto et al. (1988) in clinic trials with patients with arthrosis, administered aqueous extract of the whole plant, and reported analgesic effect in 66% of patients and improvement in articulation mobility in 24%, without side effect. Mattos (1988), using aqueous extract of the whole plant, verified effective clinical control of arthrosis, reporting a decrease in pain and inflammation or improvement in articulation mobility, after a week of treatment.
BIOACTIVITY
Ageratum conyzoides has bioactive activity that may have agricultural use, as shown by several research investigations in different countries. Pereira in 1929, cited by Jaccoud (1961), reported use of the leaves as an insect (moth) repellent. The insecticide activity may be the most important biological activity of this species. The terpenic compounds, mainly precocenes, with their antijuvenile hormonal activity are probably responsible for the insecticide effects.
Assays conducted in Colombia by Gonzalez et al. (1991) showed activity of this species against Musca domestica larvae, using whole plant hexane extract. Vyas and Mulchandani (1980) reported the action of cromenes (precocenes I and II), isolated from Ageratum plants, which accelerate larval metamorphosis, resulted in juvenile forms or weak and small adults.
Ekundayo et al. (1987) also demonstrated the juvenilizing hormonal action of precocene I and II in insects, the most common effect being precocious metamorphosis, producing sterile or dying adults. Raja et al (1987), using A. conyzoides methanolic extract from fresh leaves (250 and 500 ppm) in the fourth instar of Chilo partellus (Lepidoptera, Pyralidae), a sorghum pest, observed the presence of a dark stain in the insects' cuticle and immature pupae formation, both symptoms of deficiency of juvenile hormone.
A. conyzoides also induces morphogenetic abnormalities in the formation of mosquitoes larvae (Culex quinquefasciatus, Aedes aegypt, and Anopheles stephensi). This has been verified using petroleum ether extracts (5 and 10 mg/L) of the whole plants. The larvae showed intermediary stages between larvae–pupae, discolored and longer pupae, as well as incompletely developed adults (Sujatha et al. 1988). Extracts of the flowers of this species showed activity against mosquitoes (Anopheles stephensi), in the last instar, showing DL 50 with 138 ppm (Kamal and Mehra 1991).
Cetonic extracts of the species produced significant effects against the mosquito, Culex quinquefasciatus, in India, when applied to fourth instar larvae and adult females. In larvae, the extracts produced altered individuals, intermediate between larvae and pupae, unmelaninized and with inhibition of development, as well as adults with deformed wings muscles. In female adults, there was loss of fecundity, lower eggs production, and production of defective eggs (Saxena et al. 1992). Similar results were observed in larvae of Anopheles stephensi and Culex quinquefasciatus in others essays, confirming the antijuvenile potential of A. conyzoides (Saxena and Saxena 1992; Saxena et al. 1994).
The species also has potential use in controlling other pests. Shabana et al. (1990), using aqueous extract of the whole plant, verified reduction of larvae emergence of Meloidogyne incognita. Pu et al. (1990) and Liang et al. (1994), verified that plants of A. conyzoides in Citrus orchards sheltered predators of the spider Panonychus citri, suggesting that its development in orchards is beneficial. Other Citrus spiders populations, Phyllocoptruta oleivora and Brevipalpus phoenicis were decreased with maintenance of A. conyzoides in the orchards and a reduction of leprosy virus was noted (Gravena et al. 1993)
The presence of A. conyzoides can also be used as an seed inhibitor, decreasing development of several herbaceous plants. Jha and Dhakal (1990) in Nepal, reported that an aqueous extract of the aerial part or roots of this species (15 g of aerial part or 3 g of roots in 100 ml of water, during 24 h) inhibited germination of wheat and rice seeds while Prasad and Srivastava (1991) in India, reported a lower germination index in peanut seeds with aqueous extract.
CULTURAL STUDIES
Magalhaes et al. (1989) in Brazil evaluated fertilizer studies and plant density on biomass production of A. conzyzoides. The higher the N level, the higher the biomass production (dry weight basis). Optimum spacing was 70 cm between rows and 50 cm between plants. Biomass yields was 1.3 t (dry weight)/ha.
Correa Jr. et al. (1991) obtained biomass yields of 3.3 to 5.3 t (fresh wt)/ha. Essential oil content was 0.02% (fresh wt) and 0.16 % (dry wt) in the preflowering state. Preliminary data of Ming (1998) indicated that essential oils, higher in leaves than in flowers, peaked during early-flowering.
FUTURE POTENTIAL
There are some small pharmaceutical companies in Brazil using A. conyzoides as a raw material for phytochemicals. The demand is increasing year by year and this situation warrants further scientific research to develop both agricultural and medical uses. Research on medicinal plants should be focused primarily on species whose pharmaceutical activities have already been demonstrated. Positive preliminary clinical assays of A. conyzoides clearly demonstrate that this species may be an important economic resource in several tropical countries. The use of this species as a natural biocide or agent for pest management particularly requires further investigation.
Nghiên cứu cho thấy những người uống bia rượu nhưng thường xuyên tập thể dục giúp giảm nguy cơ tử vong so với người uống nhưng lười vận động.
Đồ uống có cồn là nguyên nhân làm tăng nguy cơ bị ung thư.
Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy vận động thân thể thường xuyên gần như có thể...
yeumoingay.com/suc-khoe/bien-phap-lam-giam-tac-hai-ruou-bia/
Căn hộ chung cư là loại nhà ở đang rất được ưa chuộng hiện nay bởi những ưu điểm rất thuyết phục của nó.
Tuy nhiên, khi thiết kế căn hộ chung cư rất nhiều gia chủ gặp rắc rối trong việc thiết kế căn hộ chung cư phù hợp với phong thủy. Để khắc phục những điềm xấu khi thiết kế cần lưu ý một số điề...
yeumoingay.com/suc-khoe/thiet-ke-phong-tam-trong-phong-ng...
Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.
Cà tím còn có tên cà dái dê, cà tím dài, cà dê. Không lẫn cà pháo cà dừa, cà bát vỏ tím. Tên Hán gọi cà với tên chung là Nuy qua. Tên khoa học: Solanum melongema, họ cà.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Ca-tim-t...
Trong các loại cà đặc biệt là cà tím dài là thực phẩm có từ 2000 năm trước Công nguyên ở nhiều vùng nhiệt đới Á Phi, nó được ưa chuộng vì chứa nhiều vitamin và ít calo. Cà có thể bung, luộc, nướng, xào, nấu, trộn... chung với các thứ khác mà không hề bị giảm chất lượng thực phẩm của nó.
Cà tím được dùng làm thức ăn phòng chữa bệnh nếu là quả chín tới.
Theo Đông y cà tím đã được ghi trong bản thảo cương mục và các y văn cổ có tính năng cực hàn, thanh can, giáng hoả, lợi tiểu, nhuận tràng, chỉ huyết, hoá đàm, thanh nhiệt, giải độc.
Một số bài thuốc chữa bệnh có dùng cà tím:
Cà tím xào mã đề:
Cà tím 200g, mã đề 15g, hành 10g, gừng 5g, tỏi 10, dầu mè, nước tương (xì dầu) một lượng thích hợp. Cà rửa sạch, cắt miếng, mã đề làm sạch; hành cắt khúc, gừng cắt lát; tỏi bỏ vỏ, cắt khô. Để chảo nóng đổ dầu vào, chờ dầu nóng bỏ gừng, hành vào phi thơm; rồi bỏ cà, mã đề vào trộn đều, bỏ muối và một ít nước vào xào chín là được. Mỗi ngày ăn một lần. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, hạ áp huyết.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Ca-tim-t...
Canh gà, cà tím:
Gà giò 1 con, cà tím 200g, sơn tra 15g, gừng 5g, hành 10g, dầu, muối một lượng thích hợp. Gà làm sạch, bỏ nội tạng; cà tím rửa sạch, cắt miếng, gừng cắt lát; hành cắt khúc. Để nồi nóng đổ dầu vào, cho gừng, hành vào phi thơm bỏ gà vào xào sơ. Tiếp đó, đổ nước vào, bỏ cà, sơn tra, muối vào, nấu sôi bằng lửa lớn, sau đó vặn lửa nhỏ nấu thêm chừng 30 phút là được. Mỗi ngày ăn một lần, dùng thay thức ăn. Có tác dụng tiêu thực tan ứ, giảm mỡ, hạ huyết áp.
Giảm huyết áp bằng các món chay:
Nhiều món chay dùng cà tím. Ví dụ: Cà tím nhồi om - cà tím dài 3 quả nhỏ. Nhân thịt chay 300g, sốt cà chua 15ml, dầu vừng 2 thìa, gia vị. Cà thái dọc làm 2 nửa bỏ ruột, ngâm nước muối, vớt ra vắt nhẹ cho ráo. Nhồi nhân thịt chay đã trộn gia vị, rán vàng phía nhồi nhân, xếp vào xoong. Tiếp đó xào hành, bột mì và sốt cà chua để om.
Giúp bỏ thuốc lá:
Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Michigan (Mỹ) đã phát hiện trong cà tím cũng có nicotin và thấy trong thí nghiệm ăn 10g cà tím có hiệu quả tương tự như hút thuốc suốt 3 giờ. Vậy có lời khuyên khi thèm thuốc lá hãy ăn các món cà tím ngon lành mát bổ lại tránh được độc hại.
Phòng chữa xuất huyết đường tiêu hoá, hô hấp, tiết niệu:
Ăn cà tím có nhiều vitamin P, C giúp làm vững chắc thành mạch chống chảy máu nói chung. Nếu được phối hợp với chanh, ngó sen, rau cần thì hiệu quả tăng cao, mạnh và nhanh hơn.
tin180.com/wp-content/blogs.dir/12/files/2010/03/Ca-tim-t...
Chữa đái ra máu
: Sắc quả cà tím cả cuống để uống.
Phòng chống ban tía ở người già: Ở tuổi 60 - 70 người già thường bị trên mặt, tay có tình trạng ứ huyết nổi ban tía hay từng chấm, có khi phải nhìn kỹ mới thấy. Để khắc phục bệnh lý này nên ăn cà tím. Cà tím lại mềm nên người già dễ ăn, dễ tiêu.
Viêm phế quản cấp:
Cà tím 500g, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ. Cà cắt dọc dài. Gừng thái lát, tỏi nghiền trộn nước tương, dầu, muối, đường. Chưng cách thuỷ. Có tác dụng thanh nhiệt hoá đàm nhiệt.
Viêm gan vàng da:
Dùng mấy quả cà tím thái nhỏ trộn với gạo nấu thành món cơm - cà, ăn liên tục nhiều ngày.
Bảo vệ răng chắc, sạch, chống hôi miệng
. Chế kem cà tím: Muối trộn cà tím với tỷ lệ 5 cà - 1 muối ngâm trong ít nhất 3 ngày với nước nóng xấp mặt, ép vỉ tre, để chỗ tối. Lấy cà ra để ráo nước phơi trong mát cho khô, bỏ vào chảo rang cháy, tán thành bột. Cất để dùng dần. Mỗi lần dùng lấy bàn chải nhúng ướt, dùng thìa sạch múc bột cà đổ lên bàn chải để đánh răng (kinh nghiệm của dân gian Nhật).
Người Mỹ dùng hỗn hợp cà muối chữa có hiệu quả các bệnh sâu răng, lợi viêm có mủ, bằng cách lấy tay sạch hoặc que bông tẩm bột chấm xát vào chỗ tổn thương. Để chữa bệnh này còn có thể chỉ dùng cuống của quả cà đốt tồn tính để chấm vào răng.
Bí đái:
Dùng hạt sắc uống để lợi tiểu.
Táo bón:
Dùng quả cà tím, hàng ngày lấy khoảng 100 - 200g nấu các món ăn đơn giản để ăn cùng cơm.
Kiêng kỵ:
Theo sách cổ cà tím tính rất lạnh, không nên phối hợp với thức ăn lạnh khác mà còn nên thêm vài ba lát gừng để giảm tính lạnh. Người tạng hàn, hay đi ngoài lỏng khi cần dùng nên thận trọng hơn. Không nên dùng khi quả cà dập nát! Ăn càng tươi càng tốt.
Theo BS. Phó Thuần Hương
SKDS
(source: tin180.com/suckhoe/2010/03/29/ca-tim-tri-tang-huyet-ap/ )
Theo Đông y, cây sả còn có tên gọi khác là hương mao hay cỏ chanh, có mùi thơm đặc trưng, bất kỳ ai khi chạm tay vào cây sả, chỉ ngửi thôi cũng đã muốn “chiếm hữu” ngay cho riêng mình bởi mùi hương ấn tượng khó quên.
Cây sả được ví như một “kho báu” tinh dầu. Lá sả chứa...
yeumoingay.com/suc-khoe/nhung-tac-dung-dat-gia-cua-cay-sa...