View allAll Photos Tagged phap
Common Bronzewing male visited our garden.
This Bronzewing sits in the trees calling for a mate much of the day and night.
They do not usually live here and somehow he has arrived.
Such a pretty bird.
via Blogger ift.tt/1ZmdJhO
Thực tế, việc điều trị nhiễm trùng đã được thực hiện từ thời cổ đại, nhưng chắc chắn chúng không thể hiệu quả như cách điều trị bằng kháng sinh hiện đại.
Rất nhiều chuyên gia y tế đã công nhận rằng sự phát triển của kháng sinh và các liệu pháp kháng sinh khác được cho là thành tựu lớn nhất của y học hiện đại. mặc dù vậy, việc lạm dụng và sử dụng sai mục đích của kháng sinh đã dẫn đến kháng thuốc ở không ít chủng vi khuẩn và virus nguy hiểm ví dụ như Staphylococcus aureus kháng methicillin, Enterococcus kháng vancomycin và Enterobacteriaceae kháng carbapenem.
Thực tế, việc điều trị nhiễm trùng đã được thực hiện từ thời cổ đại, nhưng chắc chắn chúng không thể hiệu quả như cách điều trị bằng kháng sinh hiện đại. Tuy nhiên, trước tình hình vi khuẩn tỏ ra lì llờm hơn với hầu thế các loại kháng sinh thông dụng, không ít người đã đề nghị quay lại với những cách đối phó vi khuẩn kiểu truyền thống. Vậy việc xử lý nhiễm trùng trước khi kháng sinh phát triển trong những năm đầu thế kỷ 20 như thế nào?
Máu, đỉa và dao
Chích máu đã được sử dụng như là một phương pháp điều trị phổ biến trong hơn 3.000 năm qua. Phương pháp này có nguồn gốc từ Ai Cập vào thời điểm khoảng năm 1000 TCN và được sử dụng cho đến giữa thế kỷ 20.
Thực tế, hầu hết các văn bản y tế từ thời cổ đại cho đến những năm 40 của thế kỷ trước đều ghi nhận chích máu đã được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh, đặc biệt là những viết thương có nguy cơ nhiễm trùng trong những cuộc chiến. Cuối năm 1942, Sir William Osler - một bác sỹ nội khoa có tiếng thời đó - đã đề cập đến phương pháp chích máu đối với điều trị viêm phổi trong ấn phẩm tái bản lần thứ 14 mang tên "Các nguyên tắc và thực hành y học", cuốn sách giáo khoa ưu việt mang tính lịch sử của ngành y tế.
Phương pháp chích máu dựa trên một lý thuyết y học cổ đại cho rằng cơ thể con người sẽ có trạng thái thể chất tốt nhất nếu 4 chất dịch cơ bản gồm máu, đờm, mật đen và mật vàng có được sự cân bằng. Các trường hợp nhiễm trùng vốn được cho là do sự dư thừa của máu trong cơ thể, do đó máu phải được lấy từ người bệnh nhân để đảm bảo tính cân bằng đó.
Một trong những cách thức thực hiện phổ biến nhất là sử dụng dao để mổ một vết ở tĩnh mạch hoặc động mạch, nhưng đây không phải là cách duy nhất. Bên cạnh đó, giác hơi cũng là một phương pháp quen thuộc với những nền văn minh như Trung Quốc hoặc Việt Nam, khi đó các ly thủy tinh nóng được đặt trên da, tạo ra một chân không, phá vỡ các mạch máu nhỏ và làm chảy máu dưới da các vùng lớn. Thậm chí, một số thầy thuốc hồi đó còn sử dụng đỉa để hút máu cho dù cách này được đánh giá là khá ghê rợn.
Một điều khá kỳ lạ là mặc dù việc chích máu phải do các bác sĩ khuyến cáo và xác nhân nhưng công đoạn thực hành lại được thực hiện bởi các thợ cắt tóc. Thời đó, chích máu luôn được coi là một phương pháp chống nhiễm trũng rất hữu ích, ít nhất là đối với một số loại vi khuẩn xuất hiện trong giai đoạn đầu của quá trình nhiễm trùng. Nhiều vi khuẩn cần sắt để nhân rộng, và sắt được vận chuyển trên huyết sắc tố, một thành phần của hồng cầu. Về lý thuyết, ít hồng cầu dẫn đến thiếu sắt để duy trì sự lây nhiễm của vi khuẩn.
Giang mai và thủy ngân
Giang mai (syphilis) là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do xoắn khuẩn Treponema pallidum (xoắn khuẩn giang mai) gây ra. Đường lây truyền của bệnh giang mai hầu như luôn luôn là qua đường tình dục, mặc dù có những ca thí dụ về bệnh giang mai bẩm sinh do truyền từ mẹ sang con trong tử cung hoặc khi sinh.
Mặc dù được chứng minh là một chất kịch độc, thủy ngân và không ít loại hóa chất khác đã được sử dụng để điều trị một loạt các bệnh nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng vết thương và bệnh giang mai. Điển hình như iodine, bromine và các hợp chất chứa thủy ngân được sử dụng để điều trị vết thương bị nhiễm trùng và hoại tử trong cuộc nội chiến Mỹ.
Đặc biệt, bromine được sử dụng thường xuyên nhất, nhưng gây ra cảm giác rất đau đớn đối với binh sỹ khi bôi tại chỗ hoặc tiêm vào vết thương, thậm chí cách thức này có thể gây tổn thương mô. Những phương pháp điều trị này có tác dụng gây ức chế quá trình sao chép ADN của tế bào vi khuẩn, nhưng chúng cũng có thể gây tổn hại cho các tế bào bình thường của con người.
Thủy ngân và hợp chất của nó vốn được sử dụng để điều trị bệnh giang mai trong khoảng thời gianh từ năm 1363 đến năm 1910. Chúng có thể được dùng để đắp vào da, uống hoặc tiêm. Dĩ nhiên, thủy ngân là chất kịch độc nên các tác dụng phụ của nó gồm: viêm da, viêm niêm mạc, tổn thương thận và não, thậm chí tử vong. Bên cạnh đó, các hợp chất thạch tín như Arsphenamine cũng được sử dụng trong nửa đầu thế kỷ 20, mặc dù có hiệu quả nhưng tác dụng phụ gồm: viêm thần kinh thị giác, co giật, sốt, tổn thương thận và phát ban.
Rất may là vào năm 1943, loại kháng sinh đầu tiên của thế giới - penicillin đã thay thế các phương pháp điều trị này và hiện là phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh giang mai ở tất cả các giai đoạn.
Thuốc hay trong vườn nhà
Trải qua nhiều thế kỷ, các loại thảo dược luôn được đánh giá là có khả năng điều trị các trường hợp bệnh nhân bị nhiễm trùng, nhưng vẫn chưa có một đánh giá tổng quát thực sự thông qua các thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát trên cơ thể người mà chủ yếu dựa vào kinh nghiêm sử dụng.
Một trong những hợp chất có nguồn gốc thảo dược dùng để điều trị nhiễm trùng nổi tiếng là quinine, được sử dụng để điều trị bệnh sốt rét. Nó được tách từ vỏ cây cinchona có nguồn gốc ở Nam Mỹ. Ngày nay chúng ta sử dụng một dạng tổng hợp của quinine để điều trị căn bệnh này. Trước đó, vỏ cây cinchona được sấy khô, nghiền thành bột và trộn với nước để uống. Việc sử dụng vỏ cây cinchona dùng làm thuốc để điều trị sốt đã được mô tả bởi các giáo sĩ truyền đạo trong những năm 1600, mặc dù có thể nó đã được sử dụng sớm hơn nhiều bởi những người bản địa.
Bên cạnh đó, hợp chất artemisinin, được tổng hợp từ cây Artemisia annua (ngải tây ngọt), cũng có khả năng điều trị sốt rét rất hiệu quả. Nhà khoa học người Trung Quốc, Tiến sĩ Youyou Tu, đã phân tích các tài liệu y học của Trung Quốc từ thời cổ đại để xác định rằng các chất chiết xuất từ cây Artemisia annua có tác dụng ức chế sự sao chép ADN của ký sinh trùng sốt rét ở động vật rất hiệu quả. Thậm chí, tiến sỹ Youyou Tu đã nhận giải Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 2015 cho việc phát hiện ra artemisinin.
Cuộc chiến chống vi khuẩn kháng sinh vừa mới bắt đầu
Trong khi không ít cách điều trị cổ điển tỏ ra hữu hiệu đối với vi khuẩn, việc lạm dụng kháng sinh vẫn tiếp diễn theo chiều hướng báo động khiến cho sự vượt trội của loại dược phẩm này bị biến mất hoàn toàn. Trong bối cảnh mà các loại vi khuẩn "nhờn" kháng sinh cướp đi mạng sống của 23.000 người trong tổng số 2 triệu ca nhiễm trùng mỗi năm tại Mỹ, cuộc đua tìm thấy một loại kháng sinh mới để giải quyết triệt để vấn đề này đã nổ ra và cũng thu được không ít tín hiệu tích cực ban đầu.
Tham khảo Iflscience
via Blogger ift.tt/1t1smwd
Đội ngũ nghiên cứu lý giải rằng họ đã phát hiện protein lactoferrin có trong sữa mẹ - vốn được biết đến như khả năng tăng cường miễn dịch ở trẻ em - có khả năng tiêu diệt hầu hết các loại vi khuẩn, virus hay các mầm bệnh khác.
Sữa mẹ là thứ tốt nhất cho sự phát triển của trẻ nhỏ và các nhà khoa học đã phát hiện ra nó còn có một công dụng lớn hơn thế rất nhiều: điều chế thuốc tiêu diệt các loại vi khuẩn kháng kháng sinh. Cụ thể, một loại protein có trong sữa đã được sử dụng như 1 virus tiêu diệt các loại vi khuẩn kháng thuốc.
Các nhà khoa học đến từ Phòng thí nghiệm vật lý quốc gia Anh và Đại học tổng hợp London chính là tác giả của công trình nghiên cứu mang tính bước ngoặt này. Dạng virus nhân tạo được các nhà khoa học tạo ra có thể ngay lập tức đục thủng màng tế bào của những vi khuẩn nhờn thuốc và tiêu diệt chúng ngay từ bên trong, điều này khiến cho các vi khuẩn không thể sử dụng bất kỳ phương án phản kháng nào. Bên cạnh đó, virus này cũng đem đến những tiềm năng rất lớn cho các liệu pháp gen đối với tế bào con người.
Đội ngũ nghiên cứu lý giải rằng họ đã phát hiện protein lactoferrin có trong sữa mẹ - vốn được biết đến như khả năng tăng cường miễn dịch ở trẻ em - có khả năng tiêu diệt hầu hết các loại vi khuẩn, virus hay các mầm bệnh khác. Hầu hết các đặc tính kháng khuẩn của lactoferrin là nhờ vào một mảnh nhỏ của các axit amin, những chuyên gia nghiên cứu đã nhận ra rằng để có một khả năng mạnh mẽ như vậy, các mảnh axit amin này phải có khả năng ghép nhóm thành chuỗi với nhau rồi tập trung vào các mầm bệnh, và sau đó tiêu diệt chúng bằng cách đục thủng màng tế bào của chúng.
Để tạo nên một loại "vũ khí" mới, các nhà khoa học đã thiết kế lại sự sắp xếp của các mảnh axit amin có trong lactoferrin - từ dạng chuỗi thành dạng khối. Sau đó, họ đưa khối axit amin này vào bên trong một lớp màng để nó biến thành một con virus hoàn chỉnh. Con virus này được bắn vào mô tế bào nhân tạo chứa một số vi khuẩn đã được hoạt hóa sang dnagj nhờn thuốc, kết quả là toàn bộ số vi khuẩn bị tiêu diệt rất nhanh chóng và mẫu tế bào thí nghiệm không hề bị tổn hại. Đây có thể coi là một bước đột phá nữa trong thời gian gần đây của các nhà khoa học đối với cuộc chiến chống lại các loại vi khuẩn nhờn thuốc.
Lý giải cho việc vì sao lại thiết kế virus nhân tạo thay vì một loại dược phẩm cụ thể, tiến sỹ Hasan Alkassem - tác giả của nghiên cứu - cho biết virus này có thể tạo ra một "bản hướng dẫn phòng vệ" cho tế bào con người sau khi xâm nhập vào cơ thể bên cạnh khả năng tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng. Điều này có nghĩa là tế bào của chúng ta sẽ tự biết cách phòng vệ khi gặp phải những vi khuẩn tương tự - "nó giống như một loại vaccine vậy, nhưng khác ở một chỗ là nó xuất phát từ một loại protein rất tốt", tiến sỹ Hasan Alkassem khẳng định. Ngoài ra, loại virus này cũng có thể tạo ra những thay đổi trong hệ thống gen để điều trị những bệnh liên quán đến đột biến gen mà các liệu pháp gen hiện nay vẫn đang gặp khó.
Thực tế, không ít nghiên cứu khoa học cũng muốn thực hiện ý tưởng như vậy nhưng hầu hết các sản phẩm sau cùng lại không phân biệt được đâu là tế bào con người, đâu là vi khuẩn. Nghiên cứu mới này đã gỡ bỏ được "nút thắt khó chịu" của các nhà khoa học và mở ra một tương lai mới của ngành y tế.
Tham khảo ScienceAlert
10 lý do nên tu pháp môn Tịnh Độ
để vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc
1. Trong các bộ kinh mà Phật Thích Ca tuyên thuyết trong suốt 49 năm, mỗi bộ kinh ngài chỉ giảng qua một lần mà thôi. Riêng Kinh Vô Lượng Thọ (bộ kinh chính của hành giả tu Tịnh Độ) ngài giảng đến 5 lần vì khi kết tập kinh điển các vị tổ sư thấy có 5 quyển Kinh Vô Lượng Thọ với nội dung tuy giống nhau nhưng bố cục lại hoàn toàn khác nhau. (Sau này lão cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập tất cả 5 cuốn kinh ấy lại làm thành 1 cuốn hoàn chỉnh như chúng ta có ngày nay. Đây là cuốn Kinh Vô Lượng Thọ hoàn chỉnh nhất vì nó bổ sung cho nhau những khiếm khuyết cũng như ưu điểm của riêng từng cuốn.) Yếu chỉ của Kinh Vô Lượng Thọ là khuyên bảo chúng sinh nên cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của việc sanh về Tây Phương Cực Lạc to lớn đến dường nào nên đức Thích Ca Mâu Ni Phật mới giảng đi giảng lại nhiều lần như thế, không như những cuốn kinh khác ngài chỉ nói qua một lần rồi thôi.
2. Trong thế giới Hoa Tạng các bậc đại thượng thủ bồ tát như Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền đều là Đẳng Giác Bồ Tát sắp thành Phật. Thế mà cả 2 vị đều nguyện sanh về Tây Phương để sớm viên thành Phật quả. Trong kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, Đức Phổ Hiền phát kệ thệ nguyện rằng: “Nguyện cho tôi khi sắp lâm chung, trừ sạch hết thảy bao chướng ngại; tận mắt thấy Phật A Di Đà, tức được vãng sinh nước Cực Lạc.” Thiết nghĩ chúng ta chỉ là phàm phu không thể nào sánh bằng 2 vị ấy thì không thể không nguyện sanh về Tây Phương Cực Lạc sao đặng?
3. Ở các thế giới Tịnh độ khác, mỗi thế giới chỉ có một vị bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ (tức hậu bổ Phật hay còn gọi là vị Phật tương lai sẽ thay thế vị Phật hiện tại.) Tại thế giới Ta Bà của chúng ta đang ở hiện có 1 vị hậu bổ Phật, đó là ngài Di Lặc bồ tát. Bồ tát Di Lặc hiện đang ở tại cung trời Đâu Xuất, ngài đã được Phật Thích Ca thọ ký sau này sẽ trở xuống cõi trần và trở thành vị Phật tương lai. Riêng tại Tây Phương Cực Lạc số lượng bồ tát Nhất Sanh Bổ Xứ như bồ tát Di Lặc nhiều không thể đếm xuể (theo Kinh A Di Đà). Người vãng sanh về nơi ấy ngày đêm thường được kề cận các vị đại bồ tát này để học hỏi nên đường đạo tiến rất nhanh, sớm tiến đến quả vị Phật.
4. Tu theo pháp môn Tịnh Độ rất dễ tu chỉ cần Tin sâu vào pháp môn mình tu, Nguyệnthiết tha được sanh về Tây Phương Cực Lạc, và chăm chỉ Hành trì niệm Phật là được. Người tu Tịnh Độ không cần phải đoạn hết nghiệp của mình (tham, sân, si) mà có thể vượt khỏi luân hồi, siêu thoát 3 cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới) để về cõi Tịnh của Phật A Di Đà là Tây Phương Cực Lạc. Tu theo các pháp môn khác người tu bắt buộc phải diệt trừ tận gốc tất cả nghiệp chướng của mình mới có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử.
5. Tất cả các thế giới của các chư Phật, chỉ riêng có Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người lúc lâm chung về cõi Tịnh Độ của mình. Ngoài ra không có 1 vị Phật nào khác làm điều này.
6. Thế giới Tây Phương Cực Lạc thành tựu do nguyện lực của đức Phật A Di Đà gom hết tất cả các ưu điểm trong 210 ức cõi Phật khác lại mà thành. Thế cho nên cõi nước của A Di Đà Phật ưu việt hơn tất cả các thế giới của các chư Phật khác. Nơi ấy chỉ có toàn những điều vui mà không bao giờ nghe đến điềm khổ nên được gọi là Thế Giới Cực Lạc.
7. Nếu ở tại thế giới Ta Bà của chúng ta hiện tại để tu thì phải mất đến 3 đại A Tăng Kỳ (vô lượng kiếp) mới thành Phật. Vì kiếp người ở thế gian chỉ vỏn vẹn vài chục năm hay cao lắm là 100 năm. Khi chết đi đầu thai làm kiếp khác lại quên mất việc tu hành của mình đời trước nên đường tu có khi tiến lúc lùi trong vô số kiếp. Nếu được sanh về Tây Phương Cực Lạc, tuổi thọ của con người nơi ấy dài vô lượng nên chỉ trong 1 đời có thể tu chứng thành Phật quả.
8. Trong Tịnh Độ tông chỉ có vỏn vẹn 13 vị tổ. Nhưng trong đó có đến 2 vị là hóa thân của Phật (Thiện Đạo đại sư và Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư đều là hóa thân của Phật A Di Đà) và 1 vị là hoá thân của đại bồ tát (Ấn Quang đại sư là hóa thân của Đại Thế Chí bồ tát).
9. Các vị bồ tát, các thánh hiền trong kinh luận đều hết sức tán dương, khen ngợi, cũng như khuyến khích tu pháp môn Tịnh Độ. Ngài Thiện Đạo Hoà Thượng nói rằng: “Tu pháp môn Niệm Phật ngàn người tu không sót một.” Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ thiền sư – một vị cao tăng đích truyền về tông Pháp Nhãn – dạy rằng: “Tu Tịnh Độ muôn người tu muôn người về.” Văn Thù Sư Lợi bồ tát dạy: “Trong các pháp môn của đức Phật không môn nào qua môn Niệm Phật. Niệm Phật là vua trong các pháp môn.” Quan Thế Âm bồ tát cũng dạy rằng: “Niệm Phật hơn các hạnh khác.” Mã Minh đại sĩ – tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Độ – trong Đại Thừa Khởi Tín Luận có ghi rằng: “Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện tối thắng của đức Như Lai.” Long Thọ bồ tát – tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ – cho rằng: “Niệm Phật Tam Muội có đầy đủ trí tuệ, có vô lượng phước đức, đoạn trừ tất cả phiền não, độ tất cả các chúng sanh, và sanh ra vô lượng Tam Muội khác cho đến Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội.”
10. Điều kiện để một chúng sinh sanh về các thế giới Tịnh độ khác như cõi Tịnh Độ của Bồ tát Di Lặc và Tịnh độ của Phật A Súc là rất cao, và chỉ trông cậy vào sức tu của chính mình hay tự lực. Trong khi điều kiện vãng sinh về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà đơn giản chỉ cần nhất tâm niệm Phật với đầy đủ Tín-Nguyện-Hạnh, đặc biệt là được nương nhờ tha lực của Phật A Di Đà tiếp dẫn theo như lời nguyện thứ 18 của ngài trước khi thành Phật:
“Khi ta thành Phật, nếu chúng sinh mười phương muốn sinh về nước ta, xưng danh hiệu ta, nhẫn đến tối thiểu là mười niệm*, nương vào nguyện lực của ta, nếu như không được vãng sinh, ta thề không giữ ngôi Chánh Giác.”
* Ghi chú: 10 niệm tức là 10 hơi niệm danh hiệu của ngài: A Di Đà Phật.
Cư sĩ Hữu Minh
Stay-at-home dad!
Copyright - All Rights Reserved. Use of any kind requires my written consent, thanks for looking. Faves and comments are very much appreciated.
Common Bronzewing (male)
Phaps chalcoptera
January 6th, 2016
Launching Place, Victoria, Australia
Canon EOS 5D Mark III
Canon EF 100-400mm f4.5-5.6L IS II USM
Canon 580EX II flash with extender
A resident to the feeder on my back decking. I love the rainbow colouring of the wings & the gold crown.
Những chiếc bánh Pizza thơm ngon bổ dưỡng sẽ được giới thiệu đến với bạn, chơi nhanh trò chơi bạn gái mới.
Game bánh Pizza Pháp là một trò chơi nấu ăn cực kì thú vị với giao diện màu sắc mới lạ, chơi nhanh học bí quyết làm món bánh độc đáo này cùng chia sẻ học hỏi kinh nghiệm của các chuyên gia ...
This Common Bronzewing (Phaps chalcoptera) is photographed on the lawns at The Homestead aged care home in Wallington during a visit to my mother-in-law.
Hướng dương (danh pháp khoa học: Helianthus annuus) là một loài thực vật chỉ sống một năm thuộc họ Asteraceae với bông hoa lớn (inflorescence). Thân cây hướng dương có thể cao tới 3 mét, với đường kính bông hoa là 100cm. Hoa hướng dương là loài hoa biểu tượng của Kansas và là một trong các loài hoa biểu tượng của thành phố Kitakyushu, Nhật.
Lịch sử
Hướng dương là loài cây có từ châu Mỹ, và đã được con người nuôi trồng vào khoảng năm 1000 TCN. Francisco Pizarro đã phát hiện những người dân Inca có sự sùng bái hoa hướng dương giống như hình ảnh thần Mặt Trời của họ, và những hình ảnh màu vàng kim của bông hoa cũng giống như những hạt giống đã được mang về châu Âu từ trước thế kỷ 16. Từ Helianthus để chỉ hoa hướng dương có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Hoa hướng dương thuộc lớp thực vật hai lá mầm
Thần thoại Hy Lạp
Trong thần thoại Hy Lạp, một cô gái tên là Clytie đã yêu thần mặt trời Helios, và cô đã không làm gì cả mà chỉ ngắm nhìn cỗ xe ngựa của thần đi qua bầu trời. Sau 9 ngày, cô hoá thân thành một bông hoa hướng dương. Tuy nhiên, từ “hướng dương” đã tồn tại một thời gian dài trước khi Helianthus annuus được đưa vào châu Âu, và người ta cho rằng truyện thần thoại này trên thực tế là nói tới vòi voi.
Hình dạng
Từ hướng dương cũng được sử dụng để nói về tất cả các loài thực vật thuộc chi Helianthus, rất nhiều trong số đó là thực vật sống lâu năm.
Cái gọi là bông hoa này trên thực tế là một cụm hoa dạng đầu, bao gồm những bông hoa con (chiếc hoa) tập hợp cùng nhau. Ở vòng ngoài, những bông hoa con gọi là chiếc hoa tỏa tia. Chúng có thể có màu vàng, nâu sẫm, da cam hoặc các màu khác. Những bông hoa con này không có khả năng sinh sản. Các bông hoa con nối thành một vòng tròn ở bên trong các chiếc hoa toả tia được gọi là chiếc hoa dạng đĩa.
Các chiếc hoa trong cụm này được sắp xếp theo kiểu xoắn ốc. Thông thường mỗi chiếc hoa hướng về phía chiếc tiếp theo theo một góc xấp xỉ bằng góc vàng, tạo ra một kiểu các vòng xoắn nối liền với nhau, trong đó số các vòng xoắn trái và số các vòng xoắn phải là các số kế tiếp trong dãy Fibonacci, điển hình là 34 vòng xoắn theo một hướng và 55 theo hướng kia; trên một bông hoa hướng dương rất to người ta có thể thấy 89 vòng xoắn theo một hướng và 144 theo hướng kia.
Những bông hoa dạng đĩa khi trưởng thành phát triển thành những cái mà người ta gọi là "hạt hướng dương". Tuy nhiên, các "hạt" đó thực sự là một loại quả (quả bế) của loài cây này, với những hạt thật sự nằm bên trong lớp vỏ không ăn được.
Tính hướng dương
Những bông hoa đang ở giai đoạn nụ, chưa trưởng thành thì biểu lộ tập tính hướng dương (hướng theo Mặt Trời) của loài cây này. Khi mặt trời mọc vào buổi sáng, phần lớn hoa hướng về phía đông. Theo hành trình của một ngày, vào những ngày nhiều nắng, các nụ hoa theo hành trình của Mặt Trời di chuyển từ đông sang tây, thời gian buổi đêm nó lại trở về hướng đông. Sự vận động thực hiện bằng những tế bào vận động trong thân, một đoạn mềm dẻo của cuống ở vị trí thấp hơn nụ hoa. Khi giai đoạn chồi kết thúc thì cuống hoa bị cứng lại, và khi hoa nở thì nó không còn tính hướng dương nữa, cho dù nhiều bông hoa quay về hướng đông.
Hướng dương hoang dã không quay theo hướng mặt trời. Cụm hoa đầu của nó hướng về bất cứ hướng nào khi trưởng thành. Nhưng những chiếc lá có biểu lộ một số tính hướng dương.
Cách trồng và sử dụng
Để phát triển tốt, hoa hướng dương cần đầy đủ ánh mặt trời. Chúng phát triển tốt nhất ở nơi đất phì nhiêu, ẩm ướt. Hạt giống nên trồng cách nhau 45 cm (1,5 ft) và gieo hạt sâu 2,5 cm (1 inch).
Hạt hướng dương được bán như những loại thức ăn nhanh, đặc biệt là tại Trung Quốc, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, châu Âu, và làm thức ăn cho chim. Những hạt đó cũng được sử dụng để nấu ăn và làm sa lát. Dầu hướng dương, được chiết xuất từ hạt hướng dương, được sử dụng làm dầu ăn. Dầu hướng dương có nhiều loại khác nhau với tỷ lệ acid béo không no khác nhau. Chính thành phần các acid béo không no cao này trong dầu hướng dương khiến dầu hướng dương trở thành một trong những loại dầu và mỡ thực vật tốt nhất cho sức khỏe, đặc biệt là đối với những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Trong một số loại dầu hướng dương chế biến, tỷ lệ acid béo không no, đặc biệt là acid béo không no ngắn thậm chí còn cao hơn cả trong dầu olive native[1].
Dầu hướng dương cũng thường được chế biến thành diesel sinh học do chi phí sản xuất dầu hướng dương rẻ hơn dầu đậu nành và dầu ô-liu. Phần còn lại của hạt đã được chế biến thành dầu có thể làm thức ăn cho vật nuôi, gia súc. Một số giống gần đây đã được tạo ra với cụm hoa đầu rủ xuống. Các giống đó ít hấp dẫn những người trồng hướng dương làm cây cảnh, nhưng hấp dẫn những người nông dân, bởi vì chúng làm giảm bớt sự phá hại của các loài chim và thiệt hại từ các loại bệnh đối với cây trồng. Hiện nay cũng có những giống hướng dương mới là dạng chuyển đổi gen, vì vậy chúng có sức kháng cự đối với các loại bệnh. Từ cây hướng dương còn sản xuất ra nhựa mủ (latex) và nó là loài cây của các thử nghiệm để cải thiện sự thích hợp của chúng trong vai trò của loại cây thay thế trong sản xuất cao su ít dị ứng.
Ý nghĩa của loài hoa hướng dương
Hoa hướng dương thể hiện niềm tin và hy vọng trong tình yêu, luôn hướng về điều tươi sáng nhất.
Linh tinh
Cây cúc vu có quan hệ họ hàng với cây hướng dương. Cây hướng dương Mexico là Tithonia rotundifolia.
Các báo cáo trong các tài liệu khoa học năm 1567 cho thấy một cây hướng dương cao 12m (40 ft), là cây truyền thống, cụm hoa đầu đơn, mọc tại Padua, Italia. Một cây hướng dương khác cao tới 8 m (24 ft) ở thời gian và địa điểm khác (tại Madrid). Rất nhiều cây mọc cách đây không lâu (20 năm trước) đã đạt được tới trên 8 m (25 ft) tại cả Hà Lan và Canada (Ontario).
via WordPress etu.edu.vn/dia-chi-hoc-tieng-anh-giao-tiep-cap-toc-o-tphcm/
Bạn Trương Minh Quỳnh – 29 tuổi chia sẻ, “mình muốn tìm địa chỉ học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM chất lượng. Vì mấy lần thử học rồi nhưng lúc nào cũng như vịt nghe sấm. Vừa vì giáo viên dạy nhàm chán quá, vừa vì bây giờ khó tập trung hơn nhiều so với hồi nhỏ ”
Nên học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM ở đâu?
Chia sẻ của Quỳnh kể trên là tình trạng chung của không ít người đi làm đang muốn học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM. Họ không có nhiều thời gian và phải dành sự quan tâm cho nhiều đối tượng khác nhau. Thế nhưng việc nâng cao trình độ Tiếng Anh giao tiếp là điều bắt buộc.
Bởi lẽ đây là yếu tố quyết định đến cơ hội thăng tiến, sự ổn định trong công việc của nhiều người. Bạn biết đấy, cuối năm 2017, có hơn 30.000 cử nhân mới ra trường thất nghiệp. Nếu tính cả số người tồn dư từ những năm trước, e rằng con số này còn cao hơn rất nhiều.
Do đó, đừng chần chừ tìm ngay địa chỉ học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM uy tín. Chỉ có như vậy mới giúp bản thân chiến thắng ngoạn mục ở cuộc đua này.
Những lưu ý cần biết khi chọn địa chỉ học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM
Khá nhiều trung tâm đào tạo Tiếng Anh giao tiếp đang hoạt động tại Sài Gòn. Họ phát triển và nhắm tới những đối tượng chuyên biệt như học sinh, sinh viên, người đi làm,…Dĩ nhiên lộ trình giảng dạy và phương pháp truyền đạt ở mỗi cơ sở cũng rất khác nhau.
Do đó điều đầu tiên bạn cần quan tâm chính là tìm đúng trung tâm đào tạo Tiếng Anh giao tiếp hợp với nhu cầu của mình.
Thứ hai, đừng quên chọn lịch học linh động để có thể theo sát từng buổi dạy. Điều này giúp bạn học tập hiệu quả hơn bao giờ hết và không cảm thấy bị hẫng. Các kiến thức liên quan đến nhau một cách logic nên bỏ một buổi sẽ khiến những buổi học sau đó rất khó khăn.
Ngoài chia sẻ vừa rồi, nhớ ghé thăm phần tin tức của ETU để trau dồi thêm kỹ năng hay về học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở Sài Gòn bạn nhé!
The post Địa chỉ học Tiếng Anh giao tiếp cấp tốc ở TpHCM nào dạy hay, không buồn ngủ? appeared first on ETU English The Universe - Học tiếng Anh giao tiếp cho người bận rộn.